Bỏ qua tới nội dung

Không phải sàn giao dịch, không nhận tiền.

Được, trong thời hiệu 3 năm

Cho vay, góp chung tiền ảo bị quỵt có kiện ra tòa được không?

Chủ đề
Pháp lý
Căn cứ pháp lý
12 điều khoản
Đối chiếu văn bản gốc
07/11/2026

Trả lời ngắn

Được. Từ 01/01/2026, tài sản số là tài sản theo Bộ luật Dân sự, nên cho vay, góp chung hay mua bán tài sản mã hóa giữa hai người là tranh chấp dân sự, khởi kiện ở Tòa án nhân dân khu vực nơi người kia cư trú hoặc làm việc, thời hiệu 03 năm với tranh chấp hợp đồng.

Đăng
Mục lục 12 phần
  1. 01Những tranh chấp nào kiện được, đòi được gì?
  2. 02Tiền ảo chưa được công nhận thì tòa có thụ lý không?
  3. 03Giấy vay ghi USDT, hay chỉ có tin nhắn, có giá trị không?
  4. 04Giao dịch ngoài sàn được cấp phép có bị coi là vô hiệu không?
  5. 05Đòi lại coin hay đòi tiền, tính theo giá ngày nào?
  6. 06Thời hiệu 3 năm tính từ ngày nào?
  7. 07Cần chuẩn bị chứng cứ gì?
  8. 08Khởi kiện đòi tài sản mã hóa gồm những bước nào?
  9. 09Thắng kiện mà người kia vẫn không trả thì sao?
  10. 10Khi nào là việc hình sự chứ không chỉ kiện dân sự?
  11. 11Khi nào nên hỏi luật sư?
  12. 12Những chỗ văn bản chưa trả lời rõ
  13. Căn cứ pháp lý
  14. Câu hỏi thường gặp
  15. Nguồn tham khảo

Trang này dành cho tranh chấp giữa hai cá nhân: cho bạn vay USDT (stablecoin neo giá 1 USD, xem USDT), góp tiền để một người trade chung (mua bán kiếm chênh lệch), chuyển tiền mua coin qua người quen rồi không nhận được. Tranh chấp với sàn được cấp phép có trang riêng về quyền của nhà đầu tư trên sàn được cấp phép.

Bị lừa ngay từ đầu là việc hình sự, các bước trình báo có ở bài bị lừa tiền ảo làm gì. Trang này chỉ nêu điều các văn bản đã dẫn nói; mỗi vụ do hai bên thỏa thuận hoặc Tòa án quyết định.

Những tranh chấp nào kiện được, đòi được gì?

Bốn kiểu tranh chấp hay gặp đều là tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án. Bộ luật Tố tụng dân sự liệt kê tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, về hợp đồng dân sự, và để ngỏ “các tranh chấp khác về dân sự” (Điều 26 khoản 2, 3, 14).

Tình huốngBản chất theo Bộ luật Dân sựĐòi được gìThời hiệu
Cho vay 5.000 USDT, tới hạn không trảHợp đồng vay tài sản (Điều 463)Trả tài sản cùng loại, đúng số lượng; lãi nếu có thỏa thuận03 năm (Điều 429)
Góp tiền cho một người trade chung, không chia, không trảHợp đồng hợp tác (Điều 504)Khi rút khỏi hợp tác: nhận lại phần đã góp, được chia phần tài sản chung (Điều 510); bồi thường nếu có lỗi (Điều 507)03 năm (Điều 429)
Chuyển tiền mua coin qua người quen, không nhận được coinHợp đồng mua bán, bên bán vi phạm nghĩa vụBồi thường toàn bộ thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ (Điều 351, 360)03 năm (Điều 429)
Chuyển nhầm coin, hoặc người khác giữ coin của bạn không có căn cứChiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật (Điều 579)Hoàn trả toàn bộ tài sản; tài sản cùng loại bị mất thì trả cùng loại hoặc đền bằng tiền (Điều 580)Chưa thấy văn bản nói riêng

Bảng áp câu chữ Bộ luật Dân sự 2015 vào tình huống hay gặp, số lượng là giả định. Cập nhật 07/11/2026.

Cho vay khác với nhờ giữ hộ ở một điểm: bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản vay từ lúc nhận (Bộ luật Dân sự Điều 464). Người cho vay vì vậy kiện theo hợp đồng và phải tính thời hiệu 03 năm.

Quy định “không áp dụng thời hiệu” cho yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu (Điều 155 khoản 2) chỉ dành cho người vẫn là chủ sở hữu. Khi đã cho vay, quyền sở hữu đã sang bên vay.

Tiền ảo chưa được công nhận thì tòa có thụ lý không?

Có. Lập luận “tòa khó thụ lý vì tiền ảo chưa phải tài sản” đã lỗi thời từ 01/01/2026. Luật Công nghiệp công nghệ số 71/2025/QH15 gọi tài sản số là “tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự” và xếp tài sản mã hóa vào nhóm này (Điều 46, 47).

Một bài trên Tạp chí Tòa án nhân dân ngày 18/9/2021 viết trước luật đó và cho rằng tiền ảo không phải tài sản theo Bộ luật Dân sự. Kể cả trước 2026, Bộ luật Tố tụng dân sự đã không cho Tòa án từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng (Điều 4 khoản 2).

Vì sao tài sản mã hóa được coi là tài sản, và tòa án đã xử các vụ trước 2026 thế nào, có ở trang tiền ảo có phải là tài sản không.

Giấy vay ghi USDT, hay chỉ có tin nhắn, có giá trị không?

Bộ luật Dân sự cho vay mọi loại tài sản, không chỉ tiền, và các điều về hợp đồng vay không đòi lập văn bản. Hợp đồng vay là thỏa thuận bên vay hoàn trả “tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng” (Điều 463), nên giấy vay ghi 5.000 USDT vẫn là hợp đồng vay tài sản.

Giao dịch dân sự có thể bằng lời nói, văn bản hoặc hành vi. Thỏa thuận qua phương tiện điện tử dưới dạng thông điệp dữ liệu, theo pháp luật về giao dịch điện tử, được coi là giao dịch bằng văn bản (Điều 119 khoản 1). Tin nhắn ghi rõ loại tài sản, số lượng, hạn trả vì vậy là chứng cứ quan trọng của thỏa thuận.

Góp chung để trade thì khác: hợp đồng hợp tác “phải được lập thành văn bản” (Điều 504 khoản 2).

Thỏa thuận góp chung qua tin nhắn điện tử cũng được coi là văn bản, như đoạn trên. Chỉ thỏa thuận miệng thì giao dịch có thể bị tuyên vô hiệu do vi phạm điều kiện về hình thức (Điều 129). Ngay cả khi vô hiệu, các bên vẫn phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, như phân tích ở mục sau.

Lãi suất khi tự cho nhau vay và mức trần 20%/năm có ở trang thế chấp tài sản số để vay được không. Trang đó ghi chưa thấy văn bản nói mức trần áp thế nào cho khoản vay USDT trả bằng USDT.

Giao dịch ngoài sàn được cấp phép có bị coi là vô hiệu không?

Chúng tôi chưa thấy văn bản nào nói giao dịch tài sản mã hóa ngoài sàn được cấp phép là vô hiệu. Hậu quả Nghị quyết 05/2025/NQ-CP ghi là xử phạt: sau 6 tháng kể từ khi tổ chức đầu tiên được cấp phép, nhà đầu tư trong nước giao dịch không qua tổ chức được cấp phép có thể bị xử lý hành chính hoặc hình sự (Điều 7 khoản 2).

Mốc 6 tháng chỉ bắt đầu khi có giấy phép đầu tiên. Tính đến 07/11/2026, chưa sàn nào được cấp phép.

Nghị quyết 05 cũng ghi “Các giao dịch tài sản mã hóa phải được thực hiện thông qua các tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa do Bộ Tài chính cấp phép” (cùng điều, khoản 3). Nghị quyết không nói một khoản vay giữa hai người quen có phải là “giao dịch” theo nghĩa này hay không.

Bộ luật Dân sự cho tuyên vô hiệu giao dịch vi phạm “điều cấm của luật”, và định nghĩa điều cấm là quy định “của luật” không cho phép thực hiện hành vi nhất định (Điều 123). Nghị quyết 05 là văn bản của Chính phủ, không phải luật. Tòa án có coi giao dịch ngoài sàn sau mốc 6 tháng là vi phạm điều cấm hay không, chúng tôi chưa thấy văn bản hay bản án nào trả lời.

Bị tuyên vô hiệu cũng không làm người đã giao tài sản mất quyền đòi. Các bên khôi phục tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; không hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền (Bộ luật Dân sự Điều 131 khoản 2).

Cái có thể mất là phần thỏa thuận kèm theo, như tiền lãi: giao dịch vô hiệu không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên kể từ lúc xác lập (cùng điều, khoản 1). Rủi ro khi mua bán USDT (mua bán trực tiếp giữa hai người, xem P2P là gì) có ở trang mua bán USDT P2P có vi phạm pháp luật không.

Đòi lại coin hay đòi tiền, tính theo giá ngày nào?

Mặc định đòi đúng loại, đúng số lượng đã cho vay; trả bằng tiền thay coin cần bên cho vay đồng ý. Bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền “theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý” (Bộ luật Dân sự Điều 466 khoản 2).

Câu chữ này viết cho tài sản vay là vật. Bộ luật Dân sự chia tài sản thành vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản (Điều 105), còn Luật 71 không nói tài sản số thuộc loại nào.

Ví dụ, số giả định

A cho B vay 0,1 bitcoin (BTC, tài sản mã hóa đầu tiên, xem hồ sơ Bitcoin). Giá giả định là 2.500.000.000 đồng/BTC ngày cho vay và 1.800.000.000 đồng/BTC ngày trả nợ.

  • Trả bằng coin: A nhận lại đúng 0,1 BTC, giá lên hay xuống không đổi số lượng.
  • Quy ra tiền theo giá ngày cho vay: 0,1 × 2.500.000.000 = 250.000.000 đồng.
  • Quy ra tiền theo giá ngày trả nợ: 0,1 × 1.800.000.000 = 180.000.000 đồng.
  • Chênh lệch: 250.000.000 − 180.000.000 = 70.000.000 đồng, bằng 28% số tiền tính theo giá ngày cho vay.

Hai bên được tự thỏa thuận giá hoặc cùng chọn tổ chức thẩm định giá; không thỏa thuận được thì Tòa án lập Hội đồng định giá, quyền quyết định về giá thuộc Hội đồng (Bộ luật Tố tụng dân sự Điều 104). Cách định giá tài sản mã hóa trong một vụ khác có ở trang ly hôn chia tài sản mã hóa thế nào.

Giá tài sản mã hóa khác nhau giữa các nơi giao dịch. Ghi sẵn trong thỏa thuận cách quy đổi (nguồn giá, ngày lấy giá) giúp giảm tranh cãi nếu sau này phải quy ra tiền.

Thời hiệu 3 năm tính từ ngày nào?

Từ ngày bạn biết hoặc phải biết quyền lợi bị xâm phạm, thường là khi quá hạn mà không được trả. Thời hiệu 03 năm áp cho tranh chấp hợp đồng và cho yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (Bộ luật Dân sự Điều 429, 588).

Thời hiệu bắt đầu lại khi bên nợ thừa nhận một phần hay toàn bộ nghĩa vụ, trả được một phần, hoặc hai bên đã tự hòa giải. Thời hiệu mới tính từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra sự kiện đó (Điều 157).

Ví dụ, số giả định

B hẹn trả 5.000 USDT ngày 01/6/2026 rồi không trả. Ngày 10/9/2026, B nhắn “còn nợ em 5.000 USDT, cuối năm trả”. Thời hiệu 03 năm bắt đầu lại từ ngày 11/9/2026.

Vì vậy, tin nhắn bên nợ thừa nhận khoản nợ vừa là chứng cứ, vừa kéo dài thời gian được khởi kiện. Lưu lại cả ngày giờ gửi.

Cần chuẩn bị chứng cứ gì?

Người khởi kiện phải tự thu thập, giao nộp chứng cứ; với tài sản mã hóa, phần lớn là dữ liệu điện tử. Bộ luật Tố tụng dân sự đặt nghĩa vụ chứng minh cho bên có yêu cầu và xếp dữ liệu điện tử vào nguồn chứng cứ (các điều 91, 94).

Cần chứng minhChứng cứ thường dùng
Có thỏa thuậnTin nhắn, email, giấy vay ghi loại tài sản, số lượng, hạn trả, lãi nếu có
Đã giao tài sảnTXID (mã giao dịch trên chuỗi, xem TXID là gì), địa chỉ ví gửi và nhận, lịch sử rút trên sàn
Ví nhận là của bên kiaTin nhắn bên kia gửi địa chỉ ví, xác nhận “đã nhận”
Đã góp hoặc trả bằng tiền đồngSao kê chuyển khoản ngân hàng
Bên kia còn nợTin nhắn, ghi âm bên kia thừa nhận khoản nợ

TXID chỉ cho thấy tài sản đi từ địa chỉ này sang địa chỉ kia, không ghi tên chủ ví. Với ví tự quản (ví người dùng tự giữ khóa, xem thuật ngữ), mắt xích nối địa chỉ ví với người bị kiện thường nằm ở tin nhắn trao đổi lúc giao dịch.

Ghi âm, video tự thu cần kèm văn bản trình bày xuất xứ của tài liệu (Bộ luật Tố tụng dân sự Điều 95 khoản 2). Giữ nguyên thiết bị và tài khoản chứa tin nhắn gốc, không chỉ ảnh chụp màn hình.

Tài liệu đã thử các cách cần thiết mà vẫn không tự lấy được, như lịch sử tài khoản của bên kia trên một sàn, thì có thể làm đơn đề nghị Tòa án yêu cầu nơi lưu giữ cung cấp hoặc Tòa án tự thu thập (Điều 106 khoản 2).

Khởi kiện đòi tài sản mã hóa gồm những bước nào?

Thương lượng trước, rồi nộp đơn ở Tòa án nhân dân khu vực nơi người bị kiện cư trú hoặc làm việc. Từ 01/7/2025, Tòa án nhân dân khu vực giải quyết sơ thẩm các tranh chấp dân sự (Bộ luật Tố tụng dân sự sửa bởi Luật 85/2025/QH15).

  1. Đòi bằng văn bản hoặc tin nhắn. Ghi rõ loại tài sản, số lượng, hạn trả. Bên kia trả lời thừa nhận khoản nợ thì lưu lại, vì thời hiệu bắt đầu lại.
  2. Gom chứng cứ theo bảng ở mục trên, lập danh mục.
  3. Chọn Tòa án. Mặc định là Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc; hai bên có thể thỏa thuận bằng văn bản để kiện ở Tòa án nơi nguyên đơn cư trú (Điều 39 khoản 1 điểm a, b).
  4. Làm đơn khởi kiện. Đơn có ngày làm đơn, tên Tòa án, tên và nơi cư trú của các bên, quyền lợi bị xâm phạm, yêu cầu cụ thể và danh mục chứng cứ (Điều 189 khoản 4). Ghi rõ đòi tài sản (loại, số lượng) hay đòi khoản tiền quy đổi.
  5. Nộp đơn trực tiếp tại Tòa án, qua bưu chính, hoặc trực tuyến qua cổng thông tin điện tử của Tòa án nếu có.
  6. Nộp tạm ứng án phí trong 07 ngày kể từ khi nhận giấy báo; Thẩm phán thụ lý khi nhận biên lai (Điều 195).
  7. Hòa giải tại Tòa án trong thời gian chuẩn bị xét xử, trừ vụ không được hoặc không tiến hành hòa giải được, và vụ giải quyết theo thủ tục rút gọn.

Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn khi có đủ các điều kiện sau (Điều 317 khoản 1):

  • Tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, bên bị kiện đã thừa nhận nghĩa vụ.
  • Chứng cứ đủ, Tòa án không phải thu thập thêm.
  • Các bên có địa chỉ rõ ràng; không ai cư trú và không có tài sản tranh chấp ở nước ngoài, trừ một số trường hợp các bên thỏa thuận.

Đang giải quyết rút gọn mà cần định giá tài sản và các bên không thống nhất giá thì vụ án chuyển sang thủ tục thông thường (cùng điều, khoản 3).

Lo bên kia tẩu tán tài sản trong lúc kiện, đương sự có thể yêu cầu biện pháp khẩn cấp tạm thời như kê biên, cấm chuyển dịch quyền về tài sản đang tranh chấp, phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ (Điều 114 khoản 6, 7, 11). Quy định không nói riêng cách áp dụng với coin trong ví tự quản.

Thắng kiện mà người kia vẫn không trả thì sao?

Bản án được thi hành theo Luật Thi hành án dân sự 2025, có nhắc tới tài sản số. Luật Thi hành án dân sự 106/2025/QH15 có hiệu lực từ 01/7/2026.

Khi Chấp hành viên quyết định phong tỏa tài khoản, nơi đang quản lý tài khoản phải phong tỏa “tiền, tài sản số, tài sản khác trong tài khoản” của người phải thi hành án theo quy định của Chính phủ (Điều 67 khoản 2).

Thẩm định giá và bán tài sản số khi kê biên thì “thực hiện theo quy định của pháp luật”, luật chưa nói cách cụ thể.

Coin nằm trong tài khoản tại một tổ chức có thể bị phong tỏa theo quy định trên. Coin trong ví tự quản thì chỉ người giữ khóa chuyển được, và luật không nói cách thu giữ. Tóm tắt từng điều có ở trang Luật Thi hành án dân sự 2025.

Khi nào là việc hình sự chứ không chỉ kiện dân sự?

Khi người vay gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt, hoặc có khả năng trả mà cố tình không trả. Dùng tài sản vay vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại cũng thuộc nhóm này. Các hành vi đó có thể cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản khi tài sản bị chiếm đoạt từ 4.000.000 đồng trở lên, hoặc dưới mức đó trong một số trường hợp (Bộ luật Hình sự Điều 175 khoản 1).

Lừa để lấy tài sản ngay từ đầu là tội khác. Khung hình phạt có ở trang lừa đảo tiền ảo bị phạt thế nào. Chúng tôi chưa thấy hướng dẫn riêng về cách áp tội này khi tài sản là tài sản mã hóa.

Khi nào nên hỏi luật sư?

Khi vụ việc có một trong các yếu tố dưới đây, nên hỏi luật sư hoặc trung tâm trợ giúp pháp lý trước khi nộp đơn. Nhà nước bảo đảm trợ giúp pháp lý cho các đối tượng theo quy định của pháp luật (Bộ luật Tố tụng dân sự Điều 9 khoản 3).

  • Giá trị lớn, hoặc bên kia ở nước ngoài, không rõ địa chỉ.
  • Nhiều người cùng góp, thỏa thuận chia lợi nhuận phức tạp, lãi suất cao.
  • Giao dịch diễn ra ngoài tổ chức được cấp phép sau mốc 6 tháng.
  • Có dấu hiệu lừa đảo, cần chọn giữa trình báo hình sự và kiện dân sự.
  • Thời hiệu sắp hết.

Những chỗ văn bản chưa trả lời rõ

  • Tài sản mã hóa thuộc loại nào: Luật 71 không nói tài sản số là vật hay quyền tài sản trong bốn loại tài sản của Bộ luật Dân sự. Điều này ảnh hưởng tới việc áp quy định trả bằng tiền thay vật.
  • Lãi và lãi chậm trả: mức trần 20%/năm “của khoản tiền vay” và lãi chậm trả trên “số tiền chậm trả” viết cho tiền; chưa thấy văn bản nói cách áp cho khoản vay USDT trả bằng USDT.
  • Thanh toán bằng tiền đồng: Nghị quyết 05 ghi “chào bán, phát hành, giao dịch, thanh toán tài sản mã hóa phải được thực hiện bằng Đồng Việt Nam” (Điều 4 khoản 7), nhưng không nói khoản vay coin trả coin giữa hai người có thuộc phạm vi này không.
  • Giao dịch ngoài sàn sau mốc 6 tháng: chưa thấy văn bản hay bản án nói giao dịch đó vô hiệu.
  • Nguồn giá và ngày lấy giá khi quy tài sản mã hóa ra tiền.
  • Bản án đã công bố: khi tìm ngày 07/11/2026 bằng công cụ tìm kiếm web, chúng tôi chưa tìm thấy bản án công bố nào về tranh chấp dân sự vay, góp tài sản mã hóa giữa hai cá nhân ở Việt Nam.

Toàn bộ các điều về tài sản, hợp đồng, thời hiệu được tóm tắt ở trang Bộ luật Dân sự 2015.

Căn cứ pháp lý

Trích nguyên văn, không diễn giải. Bấm để đọc văn bản gốc.

  1. Luật Công nghiệp công nghệ số 71/2025/QH15 Điều 46

    “Tài sản số là tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự, được thể hiện dưới dạng dữ liệu số, được tạo lập, phát hành, lưu trữ, chuyển giao và xác thực bởi công nghệ số trên môi trường điện tử.”
    Đọc văn bản
  2. Bộ luật Tố tụng dân sự 92/2015/QH13 (Văn bản hợp nhất 99/VBHN-VPQH) Điều 26, khoản 2, 3 và 14

    “2. Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản. 3. Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự. ... 14. Các tranh chấp khác về dân sự, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.”
    Đọc văn bản
  3. Bộ luật Tố tụng dân sự 92/2015/QH13 (Văn bản hợp nhất 99/VBHN-VPQH) Điều 4, khoản 2

    “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng.”
    Đọc văn bản
  4. Bộ luật Tố tụng dân sự 92/2015/QH13 (Văn bản hợp nhất 99/VBHN-VPQH) Điều 39, khoản 1 điểm a và điểm b

    “a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân ... có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự ...; b) Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân ... giải quyết những tranh chấp về dân sự ...”
    Đọc văn bản
  5. Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13 Điều 463

    “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.”
    Đọc văn bản
  6. Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13 Điều 466, khoản 2

    “Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.”
    Đọc văn bản
  7. Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13 Điều 429

    “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.”
    Đọc văn bản
  8. Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13 Điều 157

    “1. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại trong trường hợp sau đây: a) Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện; b) Bên có nghĩa vụ thừa nhận hoặc thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện; c) Các bên đã tự hòa giải với nhau. 2. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại kể từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra sự kiện quy định tại khoản 1 Điều này.”
    Đọc văn bản
  9. Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13 Điều 131, khoản 1 và khoản 2

    “1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập. 2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.”
    Đọc văn bản
  10. Bộ luật Tố tụng dân sự 92/2015/QH13 (Văn bản hợp nhất 99/VBHN-VPQH) Điều 94, khoản 1 và Điều 95, khoản 3

    “Chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây: 1. Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử; ... 3. Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.”
    Đọc văn bản
  11. Nghị quyết 05/2025/NQ-CP Điều 7, khoản 2 và khoản 3

    “2. Sau thời hạn 6 tháng kể từ khi tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa đầu tiên được cấp phép, nhà đầu tư trong nước giao dịch tài sản mã hóa không thông qua tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa do Bộ Tài chính cấp phép tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật. 3. ... Các giao dịch tài sản mã hóa phải được thực hiện thông qua các tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa do Bộ Tài chính cấp phép.”
    Đọc văn bản
  12. Bộ luật Hình sự 100/2015/QH13 (Văn bản hợp nhất 135/VBHN-VPQH) Điều 175, khoản 1 điểm a

    “a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;”
    Đọc văn bản

Liên quan

Bắt đầu từ cơ bản: Tài sản mã hóa là gì, khác tiền ảo và tiền điện tử thế nào?

Câu hỏi thường gặp

Không biết người vay đang ở đâu, chỉ có tên Telegram và địa chỉ ví, có kiện được không?

Đơn khởi kiện phải ghi tên, nơi cư trú, làm việc của người bị kiện; không rõ thì ghi địa chỉ cuối cùng (Bộ luật Tố tụng dân sự Điều 189 khoản 4 điểm đ). Đã ghi đúng địa chỉ mà người bị kiện đổi nơi ở không báo để trốn nghĩa vụ thì Thẩm phán không trả lại đơn mà coi là cố tình giấu địa chỉ. Ngược lại, đơn không ghi đủ, đúng tên, địa chỉ người bị kiện và không bổ sung theo yêu cầu thì bị trả lại (Điều 192 khoản 1). Chỉ có biệt danh và địa chỉ ví thì thường chưa đủ để nộp đơn.

Đã quá 3 năm thì còn kiện được không?

Vẫn nộp đơn được, vì thời hiệu không tự áp. Tòa án chỉ áp dụng thời hiệu khi một bên yêu cầu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định (Bộ luật Dân sự Điều 149 khoản 2). Có yêu cầu đó và thời hiệu đã hết thì Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án (Bộ luật Tố tụng dân sự Điều 217 khoản 1 điểm e). Thời gian bị sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan ngăn không kiện được thì không tính vào thời hiệu (Bộ luật Dân sự Điều 156 khoản 1).

Ai phải trả án phí?

Người khởi kiện nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm trước, trừ trường hợp được miễn (Bộ luật Tố tụng dân sự Điều 146 khoản 1). Khi xử xong, bên có yêu cầu không được Tòa án chấp nhận phải chịu án phí sơ thẩm, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải chịu (Điều 147 khoản 1). Hòa giải thành trước khi mở phiên tòa thì các bên chỉ chịu 50% mức án phí sơ thẩm (Điều 147 khoản 3). Mức thu cụ thể quy định ở Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; khi kiểm ngày 07/11/2026, chúng tôi chưa thấy văn bản thay thế nghị quyết này.

Cho vay không lấy lãi, bên kia trả chậm thì có đòi thêm lãi được không?

Với khoản vay không lãi mà đến hạn không trả, bên cho vay được yêu cầu trả lãi bằng 50% mức trần 20%/năm, tức 10%/năm, trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ khi có thỏa thuận khác (Bộ luật Dân sự Điều 466 khoản 4, Điều 468 khoản 2). Câu chữ viết cho số tiền. Ví dụ giả định Tòa án quy khoản nợ ra 130.000.000 đồng, chậm 6 tháng: 130.000.000 × 10% × 6/12 = 6.500.000 đồng. Chúng tôi chưa thấy văn bản nói quy định này áp thế nào khi khoản nợ là USDT trả bằng USDT.

Nhận lại coin theo bản án có phải nộp thuế 0,1% không?

Thuế thu nhập cá nhân 0,1% tính trên giá chuyển nhượng tài sản mã hóa mỗi lần bán (Luật Thuế thu nhập cá nhân 109/2025/QH15 Điều 19 khoản 2). Chúng tôi chưa thấy văn bản thuế nói việc người vay trả lại tài sản đã vay, hay trả theo bản án, có phải là chuyển nhượng hay không. Các hành vi đã được văn bản gọi tên có ở trang [chuyển nhượng tài sản mã hóa gồm những hành vi nào](/hoi-dap/chuyen-nhuong-tai-san-ma-hoa-gom-nhung-hanh-vi-nao/).

Bước tiếp theo

Nguồn tham khảo 8

Kiểm chứng ngày 07/11/2026

  1. 01Công báo: Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13congbao.chinhphu.vn
  2. 02Văn phòng Quốc hội: Văn bản hợp nhất 99/VBHN-VPQH Bộ luật Tố tụng dân sự (26/8/2025)datafiles.chinhphu.vn
  3. 03Công báo: Luật Công nghiệp công nghệ số 71/2025/QH15congbao.chinhphu.vn
  4. 04Cổng TTĐT Chính phủ: toàn văn Nghị quyết 05/2025/NQ-CPxaydungchinhsach.chinhphu.vn
  5. 05Văn phòng Quốc hội: Văn bản hợp nhất 135/VBHN-VPQH Bộ luật Hình sự (05/9/2025)datafiles.chinhphu.vn
  6. 06Công báo: Luật Thi hành án dân sự 106/2025/QH15congbao.chinhphu.vn

Mục lục

  1. 01Những tranh chấp nào kiện được, đòi được gì?
  2. 02Tiền ảo chưa được công nhận thì tòa có thụ lý không?
  3. 03Giấy vay ghi USDT, hay chỉ có tin nhắn, có giá trị không?
  4. 04Giao dịch ngoài sàn được cấp phép có bị coi là vô hiệu không?
  5. 05Đòi lại coin hay đòi tiền, tính theo giá ngày nào?
  6. 06Thời hiệu 3 năm tính từ ngày nào?
  7. 07Cần chuẩn bị chứng cứ gì?
  8. 08Khởi kiện đòi tài sản mã hóa gồm những bước nào?
  9. 09Thắng kiện mà người kia vẫn không trả thì sao?
  10. 10Khi nào là việc hình sự chứ không chỉ kiện dân sự?
  11. 11Khi nào nên hỏi luật sư?
  12. 12Những chỗ văn bản chưa trả lời rõ
  13. Căn cứ pháp lý
  14. Câu hỏi thường gặp
  15. Nguồn tham khảo