Hồ sơ các đồng coin
Mỗi đồng coin một trang: là gì, hoạt động ra sao, rủi ro gì, và ở Việt Nam thì sao (pháp lý, thuế, sàn được cấp phép nào niêm yết). Không khuyến nghị, không dự đoán giá.
- Avalanche AVAX AVAX là tài sản mã hóa gốc của Avalanche, blockchain chạy hợp đồng thông minh do công ty Ava Labs (đồng sáng lập, CEO Emin Gün Sirer) phát triển, mạng chính chạy từ 21/09/2020. AVAX dùng để trả phí giao dịch (phí bị đốt vĩnh viễn) và staking để bảo vệ mạng; nguồn cung tối đa 720 triệu AVAX.
- Axie Infinity AXS Axie Infinity là trò chơi blockchain do Sky Mavis phát triển từ cuối năm 2017, công ty do người Việt đồng sáng lập, trụ sở ban đầu tại TP.HCM; mỗi sinh vật Axie trong game là một NFT người chơi sở hữu. AXS (Axie Infinity Shards) là token quản trị của trò chơi, tổng cung tối đa 270 triệu; trò chơi chạy trên mạng Ronin, nơi cầu nối từng bị tấn công mất khoảng 620 triệu USD ngày 23/03/2022.
- Bitcoin BTC Bitcoin (BTC) là tài sản mã hóa đầu tiên, do người dùng bút danh Satoshi Nakamoto công bố năm 2008 và chạy từ ngày 03/01/2009. Mạng bitcoin cho phép chuyển giá trị trực tiếp giữa hai người mà không cần ngân hàng, tổng nguồn cung bị giới hạn ở 21 triệu BTC.
- BNB BNB BNB là tài sản mã hóa do sàn Binance tạo ra tháng 7/2017, ban đầu dùng để trả phí trên sàn này, nay là tài sản gốc dùng trả phí giao dịch trên các mạng BNB Chain (BNB Smart Chain, opBNB, BNB Greenfield). Nguồn cung ban đầu 200 triệu BNB, được đốt dần với mục tiêu còn 100 triệu.
- Cardano ADA Cardano là blockchain bằng chứng cổ phần (Ouroboros) do Charles Hoskinson, một trong những người đồng sáng lập Ethereum, khởi xướng; mạng chính chạy từ cuối tháng 9/2017. ADA là coin gốc, dùng trả phí, ủy thác cho nút xác nhận và bỏ phiếu quản trị; nguồn cung tối đa 45 tỷ ADA.
- Chainlink LINK Chainlink là mạng oracle phi tập trung: các nút độc lập đưa dữ liệu bên ngoài như giá tài sản, lãi suất, kết quả sự kiện lên blockchain để hợp đồng thông minh dùng được. LINK là token trả phí cho các nút và để đặt cọc; mạng chính chạy từ 30/5/2019, tổng cung 1 tỷ LINK.
- Coin98 C98 C98 là token tiện ích của Coin98, hệ sinh thái ví tự quản và ứng dụng tài chính phi tập trung do Lê Thanh và Nguyễn Thế Vinh sáng lập năm 2017. C98 có tổng cung tối đa 1 tỷ, phát hành trên 5 mạng (Ethereum, BNB Chain, Solana, Polygon, Viction), dùng làm phần thưởng đặt cọc, bỏ phiếu tính năng và xếp hạng thành viên.
- Dogecoin DOGE Dogecoin (DOGE) là tài sản mã hóa ra mắt ngày 06/12/2013 do Billy Markus và Jackson Palmer tạo ra như một trò đùa lấy hình chú chó Shiba Inu trong meme 'Doge'. DOGE chạy trên blockchain riêng, đào bằng thuật toán Scrypt, không có giới hạn nguồn cung (mỗi năm phát hành thêm khoảng 5 tỷ DOGE) và giá phụ thuộc rất lớn vào mạng xã hội.
- Ethereum ETH Ethereum là mạng blockchain chạy hợp đồng thông minh, ra mắt ngày 30/07/2015 do Vitalik Buterin cùng nhóm đồng sáng lập phát triển. ETH (ether) là tài sản mã hóa gốc của mạng, dùng để trả phí giao dịch và để staking bảo vệ mạng.
- Hyperliquid HYPE Hyperliquid là một blockchain lớp 1 có sàn giao dịch phi tập trung dựng sẵn bên trong, nổi tiếng nhất với hợp đồng tương lai vĩnh cửu (một dạng phái sinh dùng đòn bẩy). Dự án do Hyperliquid Labs phát triển bằng vốn tự có; HYPE là token gốc của mạng, tổng cung tối đa 1 tỷ, phát hành ngày 29/11/2024.
- Kaspa KAS Kaspa là mạng tài sản mã hóa dùng bằng chứng công việc (đào) như bitcoin nhưng xếp khối theo dạng đồ thị (blockDAG) bằng giao thức GHOSTDAG, ra mắt ngày 07/11/2021 không bán trước, không phân bổ sẵn cho ai. KAS là coin gốc, tổng nguồn cung khoảng 28,7 tỷ, thưởng đào giảm dần mỗi tháng và giảm một nửa sau mỗi năm; từ 05/05/2025 mạng tạo 10 khối mỗi giây.
- Litecoin LTC Litecoin (LTC) là tài sản mã hóa do Charlie Lee, khi đó là kỹ sư Google, tạo ra tháng 10/2011 bằng cách sửa mã nguồn Bitcoin. Litecoin tạo khối khoảng 2,5 phút một lần (Bitcoin 10 phút), dùng thuật toán đào Scrypt và có nguồn cung tối đa 84 triệu LTC, gấp 4 lần Bitcoin.
- NEAR Protocol NEAR NEAR là tài sản mã hóa gốc của NEAR Protocol, blockchain chạy hợp đồng thông minh do Alexander Skidanov và Illia Polosukhin sáng lập, khối đầu tiên tạo ngày 22/04/2020 với 1 tỷ NEAR. NEAR dùng để trả phí giao dịch, khóa làm phí lưu trữ dữ liệu và staking cho validator; từ cuối 10/2025 mức phát hành tối đa giảm từ 5% xuống 2,5% mỗi năm.
- Official Trump TRUMP Official Trump (TRUMP), thường gọi là Trump coin, là memecoin trên blockchain Solana, được công bố tối 17/01/2025 (giờ Mỹ) từ tài khoản mạng xã hội chính thức của ông Donald Trump, ba ngày trước lễ nhậm chức. Tổng cung tối đa 1 tỷ; CIC Digital LLC (công ty liên kết của Trump Organization) và Fight Fight Fight LLC cùng sở hữu 80%, mở khóa dần trong 3 năm. Trang chính thức ghi token không phải cơ hội đầu tư hay chứng khoán và không liên quan chiến dịch chính trị nào.
- Ondo ONDO ONDO là token quản trị (ERC20 trên Ethereum, tối đa 10 tỷ) của Ondo DAO, cộng đồng gắn với Ondo Finance, công ty Mỹ thành lập năm 2021 chuyên phát hành sản phẩm tài chính dạng token như trái phiếu Kho bạc Mỹ (USDY, OUSG) và cổ phiếu Mỹ (Ondo Stocks). Giữ ONDO không cho quyền gì với tài sản thực mà Ondo Finance quản lý.
- Pepe PEPE Pepe (PEPE) là memecoin dạng token ERC-20 trên Ethereum, ra mắt giữa tháng 4/2023, lấy hình chú ếch Pepe the Frog do họa sĩ Matt Furie vẽ năm 2005 nhưng không liên quan tới ông. Tổng cung 420.690 tỷ PEPE (khoảng 420,69 nghìn tỷ); trang chính thức tự ghi PEPE không có giá trị nội tại, không có đội ngũ hay lộ trình chính thức.
- Pi Network PI Pi Network là dự án tài sản mã hóa ra mắt ngày 14/03/2019, phân phối đồng Pi cho người dùng qua ứng dụng điện thoại, do nhóm Pi Core Team (trụ sở tại Thung lũng Silicon, Mỹ) phát triển. Mạng chính chạy dạng đóng từ 28/12/2021 và mở kết nối ra bên ngoài từ 20/02/2025; tính đến 26/10/2026 chưa có sàn nào ở Việt Nam được cấp phép để mua bán Pi.
- Polygon POL Polygon là mạng blockchain tương thích Ethereum, ra đời năm 2017 ở Mumbai (Ấn Độ) với tên Matic Network, đổi tên Polygon năm 2021. Coin gốc của mạng từ ngày 04/09/2024 là POL, đổi 1:1 từ MATIC, dùng trả phí gas và staking; MATIC cũ không còn là coin của mạng.
- Shiba Inu SHIB Shiba Inu (SHIB) là memecoin lấy hình chó Shiba, ra mắt tháng 8/2020 trên Ethereum, do một người ẩn danh tự xưng Ryoshi tạo ra. Tổng cung ban đầu 1 triệu tỷ (10^15) SHIB; khoảng 41% đã bị đốt, gần như toàn bộ trong một giao dịch của Vitalik Buterin ngày 16/5/2021.
- Solana SOL Solana là blockchain công khai chạy hợp đồng thông minh, khối đầu tiên tạo ngày 16/03/2020, do Anatoly Yakovenko và Raj Gokal sáng lập. SOL là tài sản mã hóa gốc của mạng, dùng để trả phí giao dịch và staking cho validator; mạng nổi tiếng vì phí thấp, tốc độ cao nhưng từng dừng hoạt động nhiều lần.
- Sui SUI Sui là blockchain lớp 1 do công ty Mysten Labs phát triển, mạng chính chạy từ ngày 3/5/2023, dùng ngôn ngữ lập trình Move. SUI là coin gốc của mạng, dùng trả phí, đặt cọc ủy quyền cho nút xác nhận và bỏ phiếu; nguồn cung tối đa 10 tỷ SUI.
- Tether (USDT) USDT USDT là stablecoin do công ty Tether phát hành từ năm 2014, được thiết kế để giữ giá 1 USDT bằng 1 đô la Mỹ nhờ tài sản dự trữ của Tether. USDT chạy trên nhiều blockchain (Tron, Ethereum, Solana, TON...), là tài sản mã hóa được người Việt mua bán nhiều nhất nhưng Nghị quyết 05/2025/NQ-CP không nhắc riêng stablecoin.
- Toncoin (Gram) GRAM Toncoin là coin gốc của blockchain TON (The Open Network), do Nikolai Durov của Telegram thiết kế, được cộng đồng vận hành từ năm 2020 sau khi Telegram rút lui vì vụ kiện của SEC Mỹ. Tháng 6/2026 coin được đổi tên thành Gram (mã GRAM), mạng vẫn tên TON; Telegram nhận lại vai trò vận hành chính từ tháng 5/2026.
- TRON TRX TRON là blockchain do Justin Sun lập năm 2017, chạy mạng chính riêng từ giữa năm 2018. TRX là coin gốc của mạng, dùng để trả phí, đổi lấy tài nguyên năng lượng, băng thông và bỏ phiếu bầu 27 nút xác nhận. Ngày 26/10/2026, khoảng 92,5 tỷ USDT đang lưu hành trên TRON (chuẩn TRC20), nhiều hơn mọi mạng khác.
- USD Coin USDC USDC (USD Coin) là stablecoin neo giá 1:1 với đô la Mỹ do công ty Circle phát hành từ năm 2018, bảo chứng bằng tiền mặt và tài sản tương đương tiền như tín phiếu Kho bạc Mỹ ngắn hạn. Ngày 22/10/2026 có 72,0 tỷ USDC lưu hành, phát hành gốc trên 38 blockchain.
- Viction VIC Viction (VIC) là blockchain lớp 1 tương thích Ethereum, tên cũ là TomoChain, do nhóm người Việt đứng đầu là ông Vương Quang Long sáng lập; mạng chính chạy từ ngày 14/12/2018 và đổi tên thành Viction ngày 01/11/2023. VIC là token gốc dùng trả phí và bỏ phiếu chọn tối đa 150 masternode; tổng cung tăng từ 100 triệu lên 210 triệu qua đợt nâng cấp tháng 10/2024.
- Worldcoin WLD Worldcoin (WLD) là token của dự án World (tên cũ Worldcoin), do công ty Tools for Humanity của Sam Altman (chủ tịch) và Alex Blania (CEO) phát triển, ra mắt ngày 24/07/2023. Người dùng quét mống mắt bằng thiết bị Orb để nhận World ID (bằng chứng là người thật) và ở một số nước được nhận WLD; ít nhất 8 nước, vùng lãnh thổ đã đình chỉ, phạt hoặc buộc xóa dữ liệu của dự án.
- XRP XRP XRP là tài sản mã hóa gốc của XRP Ledger, một blockchain ra mắt tháng 6/2012 do David Schwartz, Jed McCaleb và Arthur Britto phát triển. 100 tỷ XRP được tạo sẵn ngay từ đầu, không có đào; công ty Ripple nhận 80 tỷ XRP và là bên dùng XRP cho sản phẩm thanh toán xuyên biên giới.