Nghị định 333/2026/NĐ-CP: lưu dữ liệu tại Việt Nam ra sao?
- Số hiệu
- 333/2026/NĐ-CP
- Loại văn bản
- Nghị định
- Cơ quan ban hành
- Chính phủ
- Ngày ban hành
- 19/08/2026
- Hiệu lực từ
- 19/08/2026
- Tình trạng
- Còn hiệu lực
Tóm tắt
Nghị định 333/2026/NĐ-CP (hiệu lực 19/8/2026) hướng dẫn Luật An ninh mạng 116/2025: doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên mạng lưu dữ liệu gì tại Việt Nam, tối thiểu 24 tháng từ khi nhận yêu cầu lưu. Nghị định không có chữ "tài sản mã hóa"; theo cách đọc của chúng tôi, chưa thấy văn bản nói sàn được cấp phép thuộc diện nào.
Mục lục 10 phần
- 01Thông tin văn bản
- 02Nghị định 333 gồm những phần nào
- 03Dữ liệu nào phải lưu tại Việt Nam
- 04Doanh nghiệp trong nước và nước ngoài khác nhau thế nào
- 05Lưu tối thiểu bao lâu
- 06Xác thực tài khoản, cung cấp thông tin, khóa tài khoản
- 07Định danh địa chỉ IP: nhà mạng lưu gì
- 08Sàn tài sản mã hóa thuộc diện nào
- 09Nghị định 333 không nói gì
- 10Áp dụng từ ngày nào
- Căn cứ pháp lý
- Câu hỏi thường gặp
- Nguồn tham khảo
Luật An ninh mạng 116/2025 đặt nghĩa vụ lưu dữ liệu tại Việt Nam nhưng giao Chính phủ quy định chi tiết. Nghị định 333/2026/NĐ-CP là văn bản đó. Trang này chú giải các điều của nghị định mà doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên mạng và người dùng hay hỏi, theo bản đăng Công báo.
Phần luật (hành vi bị cấm, nghĩa vụ chung của doanh nghiệp, mức phạt) ở trang Luật An ninh mạng 116/2025. Trang này không nhắc lại phần đó.
Thông tin văn bản
| Mục | Nội dung |
|---|---|
| Số hiệu | 333/2026/NĐ-CP |
| Tên | Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật An ninh mạng |
| Cơ quan ban hành | Chính phủ, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công an |
| Ngày ký, hiệu lực | 19/8/2026, có hiệu lực cùng ngày |
| Hướng dẫn | Luật An ninh mạng 116/2025/QH15, trong đó có Điều 25 khoản 4 |
| Bố cục | 6 chương, 32 điều |
| Bản đọc | Công báo số 499 ngày 04/9/2026 |
VietnamBit đối chiếu nguyên văn các điều được trích trên trang ngày 31/10/2026. Chúng tôi chưa kiểm văn bản sửa đổi Nghị định 333.
Nghị định 333 gồm những phần nào
Nghị định có sáu chương. Việc lưu và cung cấp dữ liệu người dùng nằm chủ yếu ở hai chương: an ninh thông tin mạng và định danh địa chỉ IP. Bảng dưới theo tên chương, tên điều trong Công báo.
| Chương | Nội dung | Điều |
|---|---|---|
| I | Phạm vi, đối tượng, giải thích từ ngữ | 1–3 |
| II | Trình tự áp dụng biện pháp bảo vệ an ninh mạng: thẩm định, giám sát, kiểm tra, ứng phó sự cố, yêu cầu xóa thông tin, thu thập dữ liệu điện tử, đình chỉ hệ thống | 4–14 |
| III | Bảo đảm an ninh thông tin mạng: xác thực tài khoản, cung cấp thông tin, lưu dữ liệu tại Việt Nam | 15–20 |
| IV | Quản lý định danh địa chỉ IP | 21–23 |
| V | Tập huấn kiến thức, kỹ năng chuyên sâu về an ninh mạng | 24–29 |
| VI | Hiệu lực, chuyển tiếp | 30–32 |
Nguyên tắc chung của Chương II: biện pháp bảo vệ an ninh mạng chỉ được áp dụng đúng mục đích, đối tượng, thẩm quyền, trình tự, thủ tục và chỉ sau khi có quyết định phê duyệt bằng văn bản của người có thẩm quyền (Điều 4 khoản 2).
Dữ liệu nào phải lưu tại Việt Nam
Hai nhóm: thông tin cá nhân của người dùng tại Việt Nam, và dữ liệu do chính người dùng đó tạo ra khi dùng dịch vụ. Nhóm thứ hai được liệt kê: tên tài khoản, thời gian sử dụng, thông tin thẻ tín dụng, địa chỉ thư điện tử, địa chỉ IP đăng nhập và đăng xuất gần nhất, số điện thoại gắn với tài khoản (Điều 19 khoản 1).
Nghị định không chỉ định cách lưu. Doanh nghiệp tự chọn hình thức, miễn truy xuất được, cung cấp kịp thời khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu và bảo đảm an toàn thông tin theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (Điều 19 khoản 5).
Danh sách có thể mở rộng. Doanh nghiệp đang thu thập thiếu so với danh sách thì phối hợp với lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an để xác nhận và lưu những loại đang có. Khi thu thập thêm loại mới, doanh nghiệp phối hợp để bổ sung, thông báo công khai cho người dùng và cập nhật danh sách (Điều 19 khoản 4).
Doanh nghiệp trong nước và nước ngoài khác nhau thế nào
Doanh nghiệp trong nước có một câu riêng: lưu dữ liệu nêu trên tại Việt Nam. Doanh nghiệp nước ngoài chỉ phải lưu khi có quyết định của Bộ trưởng Bộ Công an.
| Doanh nghiệp trong nước | Doanh nghiệp nước ngoài | |
|---|---|---|
| Căn cứ | Điều 19 khoản 2 | Điều 19 khoản 3, 6 |
| Điều kiện | Nghị định không nêu thêm | Thuộc lĩnh vực liệt kê, dịch vụ bị dùng để vi phạm, sau 03 lần yêu cầu bằng văn bản và tối đa 06 tháng vẫn không có giải pháp khắc phục, không chấp hành, chấp hành không đầy đủ, hoặc ngăn chặn, cản trở, vô hiệu hóa biện pháp bảo vệ an ninh mạng |
| Đặt chi nhánh, văn phòng đại diện | Nghị định không đặt | Có, cùng quyết định |
| Hạn hoàn thành | Nghị định không nêu | 12 tháng từ ngày có quyết định |
Danh sách lĩnh vực của doanh nghiệp nước ngoài có 11 mục, trong đó có thương mại điện tử, thanh toán trực tuyến, trung gian thanh toán, ứng dụng trực tuyến, mạng xã hội và truyền thông xã hội (Điều 19 khoản 3 điểm a). Danh sách không nhắc sàn tài sản mã hóa.
Gặp bất khả kháng, doanh nghiệp nước ngoài báo lực lượng chuyên trách trong 03 ngày làm việc để kiểm tra tính xác thực. Trong trường hợp này, doanh nghiệp có 25 ngày làm việc tìm phương án khắc phục (Điều 19 khoản 3 điểm b).
Lưu tối thiểu bao lâu
Dữ liệu ở danh sách trên lưu ít nhất 24 tháng. Nhật ký hệ thống phục vụ điều tra lưu ít nhất 12 tháng. Nhật ký hệ thống là bản ghi tự động các lần đăng nhập, thao tác trên hệ thống.
| Loại | Lưu tối thiểu | Tính từ | Căn cứ |
|---|---|---|---|
| Dữ liệu phải lưu tại Việt Nam | 24 tháng | Khi doanh nghiệp nhận yêu cầu lưu, đến khi kết thúc yêu cầu | Điều 20 khoản 1 |
| Nhật ký hệ thống phục vụ điều tra vi phạm an ninh mạng | 12 tháng | Nghị định không nêu | Điều 20 khoản 3; Điều 16 khoản 6 |
| Nhật ký cấp phát địa chỉ IP của nhà mạng | 12 tháng, liên tục | Nghị định không nêu | Điều 22 khoản 3 |
| Thời gian duy trì chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp nước ngoài (không phải thời hạn lưu dữ liệu) | Đến khi thôi hoạt động hoặc thôi cung cấp dịch vụ tại Việt Nam | Khi nhận yêu cầu đặt | Điều 20 khoản 2 |
Nhật ký hệ thống tối thiểu gồm tài khoản người dùng, thời gian đăng nhập, đăng xuất, địa chỉ IP, cổng nguồn khi đăng nhập, đăng xuất và nhật ký xử lý thông tin được đăng tải (Điều 16 khoản 6).
Mốc 90 ngày lưu thông tin thiết bị và đăng nhập của tài khoản số không nằm ở Nghị định 333 mà ở một điều xử phạt của Nghị định 330 (Điều 34 khoản 1 điểm c), tóm ở trang Luật An ninh mạng 116/2025.
Xác thực tài khoản, cung cấp thông tin, khóa tài khoản
Nhóm nghĩa vụ này áp cho doanh nghiệp trong nước và nước ngoài cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, internet và dịch vụ gia tăng tại Việt Nam. Dịch vụ gia tăng trên không gian mạng được nghị định định nghĩa là dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng.
Các việc doanh nghiệp thuộc diện phải làm theo Điều 16:
- Xác thực thông tin người dùng khi đăng ký tài khoản số (thông tin dùng để đăng nhập, xác thực trên dịch vụ mạng); xác thực tài khoản bằng số điện thoại di động tại Việt Nam.
- Người livestream (phát trực tiếp) nhằm mục đích thương mại phải xác thực bằng số định danh cá nhân.
- Chỉ cho tài khoản đã xác thực đăng tải, chia sẻ thông tin và dùng tính năng tương tác.
- Cung cấp thông tin người dùng cho lực lượng chuyên trách thuộc Bộ Công an chậm nhất 24 giờ khi có yêu cầu hợp lệ, khẩn cấp chậm nhất 03 giờ.
- Chặn, gỡ thông tin, dịch vụ, ứng dụng vi phạm chậm nhất 24 giờ khi được yêu cầu, khẩn cấp 06 giờ.
Nghị định còn đặt mức khóa tài khoản đăng thông tin vi phạm. Trong 30 ngày đăng từ 03 lần trở lên: hạn chế hiển thị hoặc khóa tạm tối đa 60 ngày. Trong 90 ngày đăng từ 10 lần trở lên: tối đa 180 ngày (Điều 16 khoản 4 điểm d).
Khóa vô thời hạn áp cho tài khoản đăng thông tin xâm phạm an ninh quốc gia, đã bị khóa tạm từ 03 lần mà vẫn bị dùng để vi phạm, hoặc có căn cứ tài khoản tiếp tục bị dùng làm công cụ vi phạm (Điều 16 khoản 4 điểm đ).
Định danh địa chỉ IP: nhà mạng lưu gì
Chương IV buộc nhà mạng, doanh nghiệp cung cấp internet gắn mỗi địa chỉ IP với thuê bao tại từng thời điểm. Mục tiêu nghị định ghi là khả năng truy nguyên duy nhất tới tổ chức, cá nhân đăng ký dịch vụ (Điều 21 khoản 1).
Nhật ký cấp phát IP tối thiểu gồm IP và cổng nguồn, đích, giao thức, thời điểm bắt đầu và kết thúc phiên, mã cổng cấp IP, mã phiên, thông tin thuê bao. Khi dùng NAT (kỹ thuật cho nhiều thiết bị chung một IP công cộng), nhà mạng phải lưu đủ thông tin ánh xạ.
Khi lực lượng chuyên trách yêu cầu hợp lệ, nhà mạng cung cấp họ tên, số định danh cá nhân, mã thuê bao, địa chỉ lắp đặt hoặc số điện thoại đăng ký gắn với IP đó. Hạn là 24 giờ, khẩn cấp không quá 03 giờ (Điều 23 khoản 2).
Nghị định cấm dùng, tiết lộ, khai thác thông tin định danh địa chỉ IP vì mục đích thương mại, trừ khi pháp luật có quy định khác.
Sàn tài sản mã hóa thuộc diện nào
Nghị định 333 không có chữ “tài sản mã hóa”, “tài sản số” hay “tiền ảo”. Chúng tôi dò toàn văn bản Công báo ngày 31/10/2026.
Chữ văn bản về đối tượng của từng phần:
- Phần xác thực tài khoản, cung cấp thông tin và gỡ nội dung áp cho “doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài khi cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng Internet và các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam” (Điều 16 khoản 1; gỡ nội dung ở khoản 4 cùng điều).
- Phần định danh IP áp cho “doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, Internet” (Điều 22 khoản 1).
- Danh sách lĩnh vực chỉ có ở khoản dành cho doanh nghiệp nước ngoài (Điều 19 khoản 3 điểm a).
- Phần lưu dữ liệu ghi “doanh nghiệp trong nước” mà không nêu loại dịch vụ (Điều 19 khoản 2).
Theo cách đọc của chúng tôi, “doanh nghiệp trong nước” ở phần lưu dữ liệu là nhóm cung cấp dịch vụ trên mạng như ở phần xác thực, vì nghị định ghi phần bảo đảm an ninh thông tin mạng là để hướng dẫn các khoản của Luật 116 về doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên mạng (Điều 1 khoản 1 điểm b). Theo cách đọc của chúng tôi, chưa thấy văn bản nói sàn được cấp phép thuộc diện nào.
Câu hỏi còn mở thứ hai: Điều 20 khoản 1 tính 24 tháng từ khi doanh nghiệp nhận “yêu cầu lưu trữ dữ liệu”. Với doanh nghiệp trong nước, Nghị định 333 không nói yêu cầu đó là gì, do ai đưa ra (đối chiếu đến 31/10/2026).
Mức phạt nằm ở nghị định khác. Doanh nghiệp thuộc diện lưu dữ liệu theo Luật 116 mà không áp dụng biện pháp bảo vệ dữ liệu và không lưu dữ liệu tại Việt Nam có thể bị phạt 50–70 triệu đồng với cá nhân, 100–140 triệu đồng với tổ chức (Nghị định 330/2026 Điều 29 khoản 2 điểm c).
Nghị định 330 còn có khung cho hành vi “không lưu trữ dữ liệu hoặc lưu trữ dữ liệu nhạy cảm về an ninh quốc gia không đầy đủ theo quy định tại Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật An ninh mạng 2025” và “không bảo đảm thời gian lưu trữ nhật ký hệ thống để phục vụ điều tra, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng”. Cá nhân có thể bị phạt 30–50 triệu đồng, tổ chức có thể bị phạt gấp đôi, 60–100 triệu đồng (Nghị định 330 Điều 33 khoản 1 điểm a, c).
Bảng mức phạt từng hành vi nằm ở trang Luật An ninh mạng 116/2025.
Sàn được cấp phép lưu những gì của bạn theo từng văn bản (an ninh mạng, phòng, chống rửa tiền, dữ liệu cá nhân) được gom ở trang sàn được cấp phép lưu và gửi dữ liệu gì của bạn. Quyền của bạn với dữ liệu cá nhân nằm ở Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 91/2025.
Nghị định 333 không nói gì
- Sàn tài sản mã hóa. Không có tên loại dịch vụ này ở phần xác thực, phần lưu dữ liệu hay danh sách lĩnh vực của doanh nghiệp nước ngoài.
- VPN. Dò toàn văn, chúng tôi không thấy chữ “VPN”.
- Mức phạt. Nghị định 333 chỉ ghi doanh nghiệp không chấp hành bị xử lý theo pháp luật (Điều 19 khoản 8). Khung tiền nằm ở Nghị định 330.
- Bãi bỏ Nghị định 53/2022. Không có câu bãi bỏ. Nghị định 53 chỉ xuất hiện ở điều chuyển tiếp.
Áp dụng từ ngày nào
Nghị định 333 có hiệu lực từ 19/8/2026, cùng ngày ký (Điều 30).
Hồ sơ thẩm định, đánh giá điều kiện an ninh mạng đã được tiếp nhận hợp lệ theo Nghị định 53/2022 trước ngày đó mà chưa có kết quả thì tiếp tục giải quyết theo Nghị định 53 (Điều 31).
Căn cứ pháp lý
Trích nguyên văn, không diễn giải. Bấm để đọc văn bản gốc.
-
Luật An ninh mạng 116/2025/QH15 Điều 25, khoản 3, khoản 4
“3. Doanh nghiệp trong nước và ngoài nước cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng Internet, các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam có hoạt động thu thập, khai thác, phân tích, xử lý dữ liệu về thông tin cá nhân, dữ liệu về mối quan hệ của người sử dụng dịch vụ, dữ liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra phải áp dụng các biện pháp bảo vệ dữ liệu theo quy định của pháp luật và lưu trữ dữ liệu này tại Việt Nam trong thời gian theo quy định của Chính phủ. ... 4. Chính phủ quy định chi tiết khoản 2 và khoản 3 Điều này.”
Đọc văn bản -
Nghị định 333/2026/NĐ-CP Điều 19, khoản 2, khoản 5
“2. Doanh nghiệp trong nước lưu trữ dữ liệu quy định tại khoản 1 Điều này tại Việt Nam. ... 5. Hình thức lưu trữ dữ liệu tại Việt Nam do doanh nghiệp tự quyết định, đảm bảo khả năng truy xuất, cung cấp kịp thời khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền và đảm bảo an toàn thông tin theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.”
Đọc văn bản -
Nghị định 333/2026/NĐ-CP Điều 19, khoản 3, điểm a
“a) Doanh nghiệp nước ngoài có hoạt động kinh doanh tại Việt Nam thuộc một trong những lĩnh vực sau: dịch vụ viễn thông; lưu trữ, chia sẻ dữ liệu trên không gian mạng; cung cấp dịch vụ đăng ký, duy trì tên miền cho người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam; thương mại điện tử; thanh toán trực tuyến; trung gian thanh toán; dịch vụ kết nối vận chuyển qua không gian mạng; mạng xã hội và truyền thông xã hội; trò chơi điện tử trên mạng; ứng dụng trực tuyến; dịch vụ cung cấp, quản lý hoặc vận hành thông tin khác trên không gian mạng dưới dạng tin nhắn, cuộc gọi thoại, cuộc gọi video, thư điện tử, trò chuyện trực tuyến phải lưu trữ dữ liệu quy định tại khoản 1 Điều này và đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện chịu trách nhiệm pháp lý tại Việt Nam trong trường hợp dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp bị sử dụng thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng đã được lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an thông báo và có yêu cầu phối hợp, ngăn chặn, điều tra, xử lý bằng văn bản sau 03 lần và tối đa 06 tháng nhưng doanh nghiệp nước ngoài không có giải pháp khắc phục; không chấp hành; chấp hành không đầy đủ về phạm vi, số lượng từng vấn đề cần chấp hành trong văn bản yêu cầu hoặc ngăn chặn, cản trở, vô hiệu hóa, làm mất tác dụng của biện pháp bảo vệ an ninh mạng do lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thực hiện;”
Đọc văn bản -
Nghị định 333/2026/NĐ-CP Điều 20, khoản 1
“Thời gian lưu trữ dữ liệu theo quy định tại Điều 19 Nghị định này bắt đầu từ khi doanh nghiệp nhận được yêu cầu lưu trữ dữ liệu đến khi kết thúc yêu cầu. Thời gian lưu trữ tối thiểu là 24 tháng.”
Đọc văn bản -
Nghị định 333/2026/NĐ-CP Điều 16, khoản 2, điểm b
“Thực hiện xác thực tài khoản bằng số điện thoại di động tại Việt Nam; trường hợp người sử dụng không có số điện thoại di động tại Việt Nam thì thực hiện xác thực bằng số định danh cá nhân hoặc phương thức định danh điện tử hợp pháp khác theo quy định của pháp luật về định danh và xác thực điện tử;”
Đọc văn bản -
Nghị định 333/2026/NĐ-CP Điều 23, khoản 2, điểm c
“Thời hạn cung cấp thông tin chậm nhất là 24 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu; đối với trường hợp khẩn cấp liên quan đến an ninh quốc gia, phòng, chống khủng bố mạng, tấn công mạng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, thời hạn cung cấp thông tin không quá 03 giờ.”
Đọc văn bản -
Nghị định 333/2026/NĐ-CP Điều 23, khoản 3
“3. Nghiêm cấm việc sử dụng, tiết lộ hoặc khai thác thông tin định danh địa chỉ IP vì mục đích thương mại, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”
Đọc văn bản -
Nghị định 333/2026/NĐ-CP Điều 30
“Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 19 tháng 8 năm 2026.”
Đọc văn bản -
Nghị định 330/2026/NĐ-CP Điều 33, khoản 1, điểm a, điểm c
“1. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: a) Không lưu trữ dữ liệu hoặc lưu trữ dữ liệu nhạy cảm về an ninh quốc gia không đầy đủ theo quy định tại Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật An ninh mạng 2025; ... c) Không bảo đảm thời gian lưu trữ nhật ký hệ thống để phục vụ điều tra, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 25 của Luật An ninh mạng 2025.”
Đọc văn bản -
Nghị định 330/2026/NĐ-CP Điều 7, khoản 1
“1. Từ Mục 1 đến Mục 5 Chương II Nghị định này quy định về mức phạt tiền được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh mạng do cá nhân thực hiện. Trường hợp tổ chức có cùng hành vi vi phạm, mức phạt tiền được áp dụng với tổ chức bằng hai lần mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân.”
Đọc văn bản
Liên quan
- Văn bảnNghị định 330/2026/NĐ-CP: mức phạt vi phạm dữ liệu cá nhân
- Văn bảnNghị định 282/2025/NĐ-CP: mức phạt đánh bạc, cá cược
- Văn bảnNghị định 147/2024/NĐ-CP: tài khoản mạng xã hội, livestream
- Văn bảnNghị định 125/2020/NĐ-CP: xử phạt vi phạm về thuế, hóa đơn
Bắt đầu từ cơ bản: Tài sản mã hóa là gì, khác tiền ảo và tiền điện tử thế nào?
Câu hỏi thường gặp
Người không có số điện thoại Việt Nam xác thực tài khoản thế nào?
Doanh nghiệp thuộc diện Điều 16 xác thực bằng số điện thoại di động tại Việt Nam. Người không có số này được xác thực bằng số định danh cá nhân hoặc phương thức định danh điện tử hợp pháp khác (Điều 16 khoản 2 điểm b).
Tài khoản bị khóa vô thời hạn theo yêu cầu của cơ quan có mở lại được không?
Có thể được xem xét khôi phục khi không còn căn cứ áp dụng biện pháp, có nhầm lẫn khi xác minh, có tình tiết mới làm thay đổi căn cứ, hoặc cơ quan có thẩm quyền xác định tài khoản không bị dùng để vi phạm (Điều 16 khoản 4 điểm e). Nghị định không ghi thời hạn xem xét.
Nguồn tham khảo 4
Kiểm chứng ngày 31/10/2026
- 01Công báo số 499 (04/9/2026): Nghị định 333/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật An ninh mạngcongbao.chinhphu.vn
- 02Công báo số 499: tệp PDF ký số Nghị định 333/2026/NĐ-CPcongbaocdn.chinhphu.vn
- 03Công báo số 35 (21/01/2026): Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15congbao.chinhphu.vn
- 04Công báo số 498 (04/9/2026): tệp PDF ký số Nghị định 330/2026/NĐ-CPcongbaocdn.chinhphu.vn