Nhật ký giao dịch crypto: ghi cột nào, xem lại thế nào?
Nhật ký giao dịch crypto cần những cột nào, công thức Excel tính tỷ lệ thắng và kỳ vọng mỗi lệnh, ví dụ 6 lệnh bitcoin và cách ghi thuế 0,1% ở Việt Nam.
Mục lục 9 phần
- 01Nhật ký giao dịch khác lịch sử lệnh của sàn thế nào?
- 02Vì sao phải ghi lý do trước khi biết kết quả?
- 03Mẫu nhật ký giao dịch cần những cột nào?
- 04Tạo nhật ký giao dịch trên Excel, Google Sheets thế nào?
- 05Các chỉ số đọc từ nhật ký nói lên điều gì?
- 06Ví dụ: 6 lệnh bitcoin năm 2024 ghi vào nhật ký
- 07Bao nhiêu lệnh thì con số trong nhật ký đáng tin?
- 08Xem lại nhật ký giao dịch thế nào?
- 09Ở Việt Nam: nhật ký cũng giúp đối chiếu thuế
- Câu hỏi thường gặp
- Nguồn tham khảo
Tóm tắt nhanh
- Nhật ký giao dịch (trading journal) là bảng bạn tự ghi cho từng lệnh: kế hoạch và lý do trước khi vào, giá khớp, phí, thuế, lãi lỗ và bài học sau khi ra. Lịch sử lệnh của sàn chỉ có phần con số, không có phần lý do.
- Lý do phải ghi trước khi biết kết quả: Fischhoff (1975) thấy người đã biết kết quả đánh giá kết quả đó là dễ đoán hơn, và phần lớn không nhận ra mình bị kết quả chi phối.
- Kỳ vọng mỗi lệnh bằng tỷ lệ thắng nhân lãi trung bình trừ tỷ lệ thua nhân lỗ trung bình. Thắng 70% nhưng lãi trung bình 1 triệu, lỗ trung bình 3 triệu đồng thì mỗi lệnh lỗ trung bình 200.000 đồng.
- Ví dụ 6 lệnh 0,01 BTC năm 2024 theo giá đóng cửa của Coin Metrics: thắng 3 trên 6, lãi ròng 29,17 USD. Phí giả định và thuế 0,1% ăn mất 28,8% phần lãi trước phí.
- Ở Việt Nam, mỗi lần bán tài sản mã hóa chịu thuế 0,1% trên giá chuyển nhượng dù lãi hay lỗ, nên cột giá bán và cột thuế trong nhật ký còn dùng để đối chiếu khi khai thuế.

Nhật ký giao dịch (trading journal) là bảng bạn tự ghi cho từng lệnh mua bán. Trước khi vào lệnh, bạn ghi kế hoạch: mua vì sao, sai ở đâu thì thoát, chịu lỗ tối đa bao nhiêu. Sau khi ra, bạn ghi giá khớp thật, phí, thuế, lãi lỗ ròng và một câu bài học.
Sau vài chục lệnh, bảng này trả lời được những câu mà cảm giác không trả lời được: tỷ lệ thắng thật là bao nhiêu, mỗi lệnh trung bình lãi hay lỗ, phí và thuế ăn mất bao nhiêu, lệnh nào làm đúng kế hoạch. Ở Việt Nam, cùng bảng đó còn giữ giá bán của từng lần bán, thứ cần khi đối chiếu thuế 0,1%.
Nhật ký giao dịch khác lịch sử lệnh của sàn thế nào?
Lịch sử lệnh của sàn chỉ ghi chuyện đã xảy ra; nhật ký ghi thêm điều bạn định làm và vì sao. Không có phần đó thì không thể biết một lệnh lãi là nhờ kế hoạch tốt hay nhờ may.
| Thông tin | Lịch sử lệnh của sàn | Nhật ký tự ghi |
|---|---|---|
| Ngày giờ, cặp, giá khớp, khối lượng, phí | Có | Có (chép lại hoặc xuất từ sàn) |
| Lý do vào lệnh, điểm thoát dự kiến | Không | Có, ghi trước khi đặt lệnh |
| Rủi ro dự kiến, đúng kế hoạch hay không | Không | Có |
| Cảm xúc lúc vào lệnh, bài học | Không | Có |
| Lệnh ở nhiều sàn, nhiều ví trong một bảng | Không, mỗi sàn một nơi | Có |
Một lý do nữa để giữ bảng riêng: dữ liệu trong app thuộc về sàn. Sàn có thể giới hạn khoảng thời gian xuất báo cáo, ngừng dịch vụ hoặc khóa tài khoản. Cần giữ những gì và giữ bao lâu cho mục đích thuế có ở bài lưu lịch sử giao dịch tài sản mã hóa, bài này không nhắc lại.
Vì sao phải ghi lý do trước khi biết kết quả?
Vì khi đã biết kết quả, trí nhớ tự sửa lại điều bạn từng nghĩ, và bạn không nhận ra điều đó.
Trong các thí nghiệm của Fischhoff (1975), người được cho biết kết quả của một sự kiện đánh giá kết quả đó là có khả năng xảy ra cao hơn so với người chưa biết, và theo tóm tắt bài báo, họ “largely unaware” (phần lớn không nhận ra) rằng kết quả đã đổi cách họ nhìn. Tác giả viết sự thiếu nhận biết này có thể hạn chế nghiêm trọng khả năng “learn from the past” (học từ quá khứ).
Baron và Hershey (1988) đo một lỗi gần đó, gọi là thiên kiến kết quả (outcome bias). Qua 5 nghiên cứu, người tham gia chấm cách suy nghĩ của người ra quyết định là tốt hơn khi kết quả tốt, dù có đủ thông tin như người ra quyết định. Người tham gia được hỏi thì cho rằng không nên xét kết quả khi chấm, nhưng họ vẫn xét.
Với người giao dịch, hệ quả rất cụ thể. Lệnh lãi thì nhớ là “đã tính kỹ”, lệnh lỗ thì nhớ là “bị thị trường lừa”. Dòng lý do viết trước lúc đặt lệnh là bản ghi duy nhất không bị kết quả sửa lại. Các thiên kiến khác như gồng lỗ, gỡ lỗ có ở bài tâm lý giao dịch.
Mẫu nhật ký giao dịch cần những cột nào?
Mười tám cột, chia hai phần: chín cột điền khi vào lệnh, chín cột điền sau khi đóng lệnh. Mẫu dưới đây dành cho giao dịch giao ngay (mua tài sản thật rồi bán ra, xem giao ngay). Chữ cái đầu dòng là cột trên Excel hoặc Google Sheets, dùng cho công thức ở mục sau.
| Cột | Tên cột | Ghi gì |
|---|---|---|
| A | Ngày giờ mua | Ngày, giờ khớp lệnh mua |
| B | Nơi giao dịch | Tên sàn hoặc ví |
| C | Tài sản | Cặp giao dịch, ví dụ BTC/VND |
| D | Lý do (nhãn) | Một nhãn ngắn bạn tự đặt, dùng thống nhất |
| E | Giá mua | Giá khớp thật, không phải giá định đặt |
| F | Khối lượng | Số đơn vị tài sản đã mua |
| G | Điểm dừng lỗ | Giá mà ở đó bạn thừa nhận mình sai và bán |
| H | Rủi ro dự kiến | (E − G) × F, số tiền chịu mất nếu thoát đúng điểm dừng |
| I | Cảm xúc khi vào | Điểm 1 (bình tĩnh) đến 5 (nôn nóng) |
| J | Ngày giờ bán | Ngày, giờ khớp lệnh bán |
| K | Giá bán | Giá khớp thật |
| L | Phí | Tổng phí mua và bán, quy ra cùng đơn vị tiền |
| M | Thuế 0,1% | K × F × 0,1% |
| N | Khấu trừ hay tự khai | “Đã khấu trừ” hoặc “Tự khai”, kèm hạn khai nếu tự khai |
| O | Lãi lỗ ròng | (K − E) × F − L − M |
| P | Hệ số R | O / H |
| Q | Đúng kế hoạch? | “Có” hoặc “Không” |
| R | Bài học | Một câu, viết trong ngày đóng lệnh |
Bốn cột hay bị bỏ qua lại là bốn cột đáng giá nhất: D (lý do), G (điểm dừng lỗ), Q (đúng kế hoạch) và R (bài học). Bỏ chúng đi thì nhật ký chỉ còn là bản sao lịch sử lệnh. Điểm dừng lỗ là gì, đặt bằng lệnh nào có ở bài stop loss và take profit.
Ba quy ước giúp bảng dùng được lâu:
- Một dòng cho một lần mua và lần bán tương ứng. Bán làm hai lần thì tách thành hai dòng, chia khối lượng và phí mua theo tỷ lệ. Mỗi lần bán là một lần tính thuế riêng, nên tách dòng cũng khớp với cách tính thuế.
- Nhãn lý do lấy từ một danh sách cố định, khoảng 3 đến 6 nhãn. Viết tự do mỗi lần một kiểu thì không lọc được.
- Cùng một đơn vị tiền trong một bảng. Giao dịch bằng USDT (đồng tiền mã hóa neo giá đô la Mỹ, xem USDT) thì thêm cột giá quy đổi sang đồng và nguồn giá.
Tạo nhật ký giao dịch trên Excel, Google Sheets thế nào?
Dòng 1 là tên cột, mỗi lệnh một dòng từ dòng 2; bốn cột H, M, O, P tự tính bằng công thức, phần tổng hợp đặt ở trang tính riêng.
- Gõ 18 tên cột ở bảng trên vào dòng 1, từ A đến R.
- Ở dòng 2, nhập công thức: H2
=IF(G2="";"";(E2-G2)*F2), M2=IF(K2="";"";K2*F2*0,1%), O2=IF(K2="";"";(K2-E2)*F2-L2-M2), P2=IF(OR(O2="";H2="");"";O2/H2). Kéo xuống các dòng dưới. Phần IF để trống ô khi lệnh chưa đóng (cột K trống), nên dòng trống và lệnh đang mở không bị đếm thành lệnh lỗ ở trang tổng hợp. - Cột D, N, Q dùng danh sách thả xuống (Data validation, xác thực dữ liệu) để nhập đúng chữ, không gõ sai chính tả.
- Mở trang tính thứ hai tên “Tổng hợp”, đặt các công thức ở bảng dưới.
- Khóa dòng 1 (Freeze) để cuộn vẫn thấy tên cột, và sao lưu tệp ra ngoài máy định kỳ.
Công thức tổng hợp, giả sử dữ liệu từ dòng 2 đến dòng 500 của trang tính tên “NhatKy”:
| Chỉ số | Công thức |
|---|---|
| Số lệnh đã đóng | =COUNT(NhatKy!O2:O500) |
| Tỷ lệ thắng | =COUNTIF(NhatKy!O2:O500;">0")/COUNT(NhatKy!O2:O500) |
| Lãi trung bình của lệnh thắng | =AVERAGEIF(NhatKy!O2:O500;">0") |
| Lỗ trung bình của lệnh thua | =AVERAGEIF(NhatKy!O2:O500;"<0") |
| Kỳ vọng mỗi lệnh | =AVERAGE(NhatKy!O2:O500) |
| Hệ số lợi nhuận | =SUMIF(NhatKy!O2:O500;">0")/-SUMIF(NhatKy!O2:O500;"<0") |
| Kỳ vọng tính theo R | =AVERAGE(NhatKy!P2:P500) |
| Lãi lỗ của lệnh sai kế hoạch | =SUMIF(NhatKy!Q2:Q500;"Không";NhatKy!O2:O500) |
Các công thức dùng dấu chấm phẩy giữa các đối số và dấu phẩy thập phân (0,1%), là cách nhập thường gặp khi Excel hoặc Google Sheets đặt định dạng số kiểu Việt Nam. Nếu bảng tính báo lỗi công thức, thử đổi dấu chấm phẩy thành dấu phẩy và 0,1% thành 0.1%, tùy cài đặt vùng của máy.
Các chỉ số đọc từ nhật ký nói lên điều gì?
Tỷ lệ thắng đứng một mình không nói lên gì; phải đặt cạnh độ lớn của lãi và lỗ. Bảng dưới gom các chỉ số cơ bản, tất cả tính trên lãi lỗ ròng (đã trừ phí và thuế). Lãi lỗ ròng khác lãi lỗ gộp thế nào có ở bài PnL là gì.
| Chỉ số | Cách tính | Đọc thế nào |
|---|---|---|
| Tỷ lệ thắng (win rate) | Số lệnh lãi ÷ tổng số lệnh | Bao nhiêu phần trăm lệnh có lãi |
| Tỷ lệ lãi trên lỗ (payoff ratio) | Lãi trung bình ÷ lỗ trung bình | Lệnh thắng lớn gấp bao nhiêu lệnh thua |
| Kỳ vọng mỗi lệnh (expectancy) | Tỷ lệ thắng × lãi trung bình − tỷ lệ thua × lỗ trung bình | Trung bình mỗi lệnh lãi hay lỗ bao nhiêu |
| Hệ số lợi nhuận (profit factor) | Tổng lãi ÷ tổng lỗ | Trên 1 là tổng lãi lớn hơn tổng lỗ |
| Kỳ vọng theo R | Trung bình cột hệ số R | Mỗi lệnh lãi hay lỗ bao nhiêu lần rủi ro dự kiến |
Thắng nhiều vẫn có thể lỗ. Ví dụ giả định: thắng 70% số lệnh, lãi trung bình 1 triệu đồng, lỗ trung bình 3 triệu đồng.
Kỳ vọng mỗi lệnh = 0,7 × 1.000.000 − 0,3 × 3.000.000 = 700.000 − 900.000 = −200.000 đồng.
Với tỷ lệ lãi trên lỗ 1 : 3 như vậy, tỷ lệ thắng tối thiểu để hòa vốn là lỗ trung bình ÷ (lãi trung bình + lỗ trung bình) = 3 ÷ (1 + 3) = 75%. Nhật ký giúp phát hiện mẫu hình dẫn tới cảnh này: chốt lời sớm, ôm lỗ lâu. Mẫu hình đó gọi là hiệu ứng cố thủ (disposition effect), đã được Odean (1998) đo trên dữ liệu tài khoản môi giới và có ở bài tâm lý giao dịch.
Hệ số R (R-multiple) đo kết quả bằng đơn vị rủi ro dự kiến. Ví dụ giả định, giá không phải giá thị trường: mua 0,01 BTC ở 2.000.000.000 đồng/BTC, điểm dừng lỗ 1.900.000.000 đồng/BTC.
- Rủi ro dự kiến (1R) = (2.000.000.000 − 1.900.000.000) × 0,01 = 1.000.000 đồng.
- Lệnh này đóng với lãi ròng 1.500.000 đồng thì đạt 1.500.000 ÷ 1.000.000 = +1,5R.
- Một lệnh cùng cách đặt nhưng lỗ ròng 1.300.000 đồng thì là −1,3R: mất nhiều hơn dự kiến 0,3R. Phần vượt đến từ phí, thuế, trượt giá (giá khớp xấu hơn giá dự kiến, xem slippage là gì) hoặc việc dời điểm dừng lỗ. Cột R làm lộ rõ các lệnh “lỗ quá tay” như vậy.
Rủi ro mỗi lệnh nên là bao nhiêu phần trăm vốn, chuỗi thua làm vốn giảm thế nào có ở bài quản lý vốn trong crypto.
Ví dụ: 6 lệnh bitcoin năm 2024 ghi vào nhật ký
Sáu lệnh giả định, mỗi lệnh 0,01 BTC, mua và bán ở giá đóng cửa ngày theo Coin Metrics: thắng 3 trên 6, lãi ròng 29,17 USD.
Ngày mua bán do VietnamBit chọn để minh họa cách ghi và cách tính, không phải một chiến lược. Giả định phí 0,1% mỗi chiều (phí của các sàn đang xin cấp phép chưa công bố). Thuế 0,1% giá bán được cộng vào để minh họa theo Luật Thuế thu nhập cá nhân 109/2025/QH15 (hiệu lực 01/7/2026); năm 2024 chưa có mức thuế này. Đơn vị: USD, giá là PriceUSD của Coin Metrics (giá cuối ngày theo giờ UTC).
| Lệnh | Mua → bán (USD/BTC) | Lãi lỗ trước phí | Phí 2 chiều + thuế | Lãi lỗ ròng |
|---|---|---|---|---|
| 1 | 11/3: 72.198,09 → 25/3: 70.042,02 | −21,56 | 2,12 | −23,68 |
| 2 | 06/5: 63.228,10 → 20/5: 71.202,20 | +79,74 | 2,05 | +77,69 |
| 3 | 03/6: 68.833,30 → 17/6: 66.483,88 | −23,49 | 2,01 | −25,50 |
| 4 | 01/7: 62.835,40 → 15/7: 64.734,76 | +19,00 | 1,93 | +17,07 |
| 5 | 29/7: 66.867,17 → 12/8: 59.394,16 | −74,73 | 1,85 | −76,58 |
| 6 | 09/9: 57.135,78 → 23/9: 63.336,01 | +62,00 | 1,83 | +60,17 |
| Cộng | +40,96 | 11,79 | +29,17 |
Giá: Coin Metrics Community API, tải 07/11/2026. Phí là giả định; VietnamBit tự tính, làm tròn đến cent từng khoản.
Cách tính một dòng, lệnh 1:
- Tiền mua = 0,01 × 72.198,09 = 721,98 USD; tiền bán = 0,01 × 70.042,02 = 700,42 USD.
- Phí mua 0,72; phí bán 0,70; thuế 0,1% × 700,42 = 0,70. Cộng 2,12 USD.
- Lãi lỗ ròng = 700,42 − 721,98 − 2,12 = −23,68 USD.
Các chỉ số của 6 lệnh:
- Tỷ lệ thắng = 3 ÷ 6 = 50%.
- Lãi trung bình = (77,69 + 17,07 + 60,17) ÷ 3 = 154,93 ÷ 3 = 51,64 USD.
- Lỗ trung bình = (23,68 + 25,50 + 76,58) ÷ 3 = 125,76 ÷ 3 = 41,92 USD.
- Kỳ vọng mỗi lệnh = 0,5 × 51,64 − 0,5 × 41,92 = 25,82 − 20,96 = 4,86 USD, khớp với 29,17 ÷ 6.
- Hệ số lợi nhuận = 154,93 ÷ 125,76 ≈ 1,23.
Nhật ký cho thấy hai điều mà ảnh chụp số dư không cho thấy. Thứ nhất, phí và thuế 11,79 USD (trong đó thuế 3,94 USD) bằng 28,8% lãi trước phí 40,96 USD, kéo kỳ vọng mỗi lệnh từ 6,83 xuống 4,86 USD. Thứ hai, riêng lệnh 5 lỗ 76,58 USD, bằng 49,4% tổng lãi của ba lệnh thắng. Đọc lại cột lý do và cột “đúng kế hoạch” của lệnh 5 là việc đầu tiên khi xem lại.
Barber và Odean (2000) thấy điều tương tự ở 66.465 hộ gia đình giao dịch cổ phiếu tại Mỹ giai đoạn 1991–1996. Trước chi phí, nhóm giao dịch nhiều và nhóm giao dịch ít chênh nhau rất ít. Sau chi phí, nhóm giao dịch nhiều nhất chỉ còn 11,4% mỗi năm, so với 17,9% của thị trường.
Bao nhiêu lệnh thì con số trong nhật ký đáng tin?
Vài chục lệnh vẫn còn sai số lớn; 6 lệnh như ví dụ trên gần như chưa nói lên điều gì.
Tỷ lệ thắng đo trên ít lệnh dao động mạnh do may rủi. Bảng dưới là khoảng sai số ước lượng với độ tin cậy 95%, khi tỷ lệ thắng đo được là 50%, tính theo công thức xấp xỉ chuẩn ±1,96 × √(0,5 × 0,5 ÷ số lệnh). Với số lệnh rất ít, công thức xấp xỉ này chỉ cho mức độ thô.
| Số lệnh | Sai số ước lượng | Tỷ lệ thắng thật có thể nằm trong |
|---|---|---|
| 6 | ±40 điểm phần trăm | 10% đến 90% |
| 30 | ±18 điểm phần trăm | 32% đến 68% |
| 100 | ±10 điểm phần trăm | 40% đến 60% |
| 300 | ±5,7 điểm phần trăm | 44% đến 56% |
VietnamBit tự tính. Ví dụ dòng 30 lệnh: √(0,25 ÷ 30) = 0,0913; 1,96 × 0,0913 = 0,179, tức khoảng ±18 điểm phần trăm.
Vì vậy, đổi quy tắc sau 5 lệnh thua liên tiếp thường là phản ứng với may rủi chứ chưa phải với bằng chứng. Nhật ký giúp bạn đợi đủ số lệnh trước khi kết luận, và cho thấy một quy tắc mới đã được áp từ dòng nào. Kiểm thử một quy tắc trên dữ liệu quá khứ có thêm các bẫy riêng, xem bài backtest là gì.
Xem lại nhật ký giao dịch thế nào?
Chấm quyết định theo kế hoạch, không theo kết quả; xem theo tuần để sửa thói quen, theo tháng để đọc chỉ số.
Trước hết, xếp mỗi lệnh vào một trong bốn ô, dựa vào cột Q (đúng kế hoạch) và cột O (lãi lỗ ròng):
| Lệnh lãi | Lệnh lỗ | |
|---|---|---|
| Đúng kế hoạch | Làm đúng, kết quả tốt: giữ cách làm | Làm đúng, gặp lúc xấu: không cần sửa quy tắc vì một lệnh |
| Sai kế hoạch | Lãi nhờ may: nguy hiểm nhất vì dễ thành thói quen | Làm sai, trả giá: tìm nguyên nhân trong cột lý do, cảm xúc |
Ô “sai kế hoạch nhưng lãi” là chỗ thiên kiến kết quả của Baron và Hershey lộ rõ nhất: kết quả tốt khiến một quyết định tồi trông như quyết định giỏi.
Mỗi tuần, khoảng 15 phút:
- Điền nốt các cột còn trống, nhất là cột bài học của lệnh đã đóng.
- Lọc các lệnh “Không” ở cột Q, cộng lãi lỗ ròng của nhóm này bằng công thức SUMIF ở trên.
- Đếm số lệnh mở trong vòng một giờ sau một lệnh lỗ. Lệnh vội để gỡ (revenge trading, giao dịch trả thù) thường nằm ở đây.
- Đếm tổng số lệnh trong tuần, so với tuần trước. Số lệnh tăng mà lý do không đổi thường là dấu hiệu giao dịch quá tay.
Mỗi tháng:
- Tính lại các chỉ số ở trang “Tổng hợp”, ghi vào một dòng theo tháng để so.
- Lọc theo nhãn lý do ở cột D: nhãn nào có kỳ vọng âm sau đủ nhiều lệnh thì xem lại hoặc bỏ.
- So tổng phí và thuế với tổng lãi trước phí, như ví dụ ở trên.
- Chọn đúng một quy tắc để sửa, ghi ngày bắt đầu áp dụng vào dòng nhật ký đầu tiên dùng quy tắc mới.
- Đối chiếu tổng lãi lỗ trong bảng với số dư thực tế trên sàn và ví. Lệch nhau nghĩa là có lệnh hoặc khoản phí chưa ghi.
Ở Việt Nam: nhật ký cũng giúp đối chiếu thuế
Mỗi lần bán tài sản mã hóa chịu thuế 0,1% trên giá chuyển nhượng, dù lần đó lãi hay lỗ, nên nhật ký cần ghi từng lần bán.
Thuế bằng giá chuyển nhượng nhân 0,1%, áp cho cá nhân cư trú và không cư trú (Luật Thuế thu nhập cá nhân 109/2025/QH15 Điều 19 khoản 2, Điều 27 khoản 2). Thuế này không tính trên lãi, nên lỗ vẫn nộp, và càng bán nhiều lần thì tổng thuế càng lớn dù lãi lỗ không đổi.
Cột N trả lời một câu: lần bán này đã bị khấu trừ hay bạn phải tự khai. Tổ chức cung cấp dịch vụ được cấp phép khấu trừ thuế thu nhập cá nhân trên từng lần chuyển nhượng (Thông tư 41/2026/TT-BTC Điều 4 khoản 1). Không có bên khấu trừ thì cá nhân tự khai theo từng lần phát sinh (Thông tư 89/2026/TT-BTC Điều 22 khoản 8). Tính đến 07/11/2026, chưa sàn nào được cấp phép.
- Bán nhiều lần trong ngày thì khai thế nào, hạn nộp đếm ra sao: bài bán coin nhiều lần trong ngày, tự khai thuế thế nào.
- Bán lấy USDT thì quy đổi sang đồng ra sao: ghi giá quy đổi và nguồn giá ngay lúc bán vào nhật ký, vì Luật 109 và Thông tư 89 chưa nói rõ cách quy đổi.
Nhật ký là ghi chép của bạn, không thay chứng từ. Lịch sử giao dịch do sàn xuất, sao kê ngân hàng và chứng từ thuế vẫn cần lưu riêng, tốt nhất ở nơi ngoài app sàn.
Chia sẻ bài viết
Liên quan
- Kiến thức nềnTài sản mã hóa cho người mới: 10 điều cần biết trước khi mua
- Kiến thức nềnTrading crypto là gì, scalping, swing và day trading khác gì?
- Kiến thức nềnThanh khoản và khối lượng giao dịch crypto là gì?
- Kiến thức nềnRủi ro đầu tư tiền ảo gồm những gì, đã xảy ra thật ra sao?
Bắt đầu từ cơ bản: Thuế tài sản mã hóa 0,1% tính thế nào?
Câu hỏi thường gặp
Có cần mua mẫu nhật ký giao dịch trả phí không?
Không cần. Bảng cột và công thức trong bài đủ để dựng một nhật ký trên Excel hay Google Sheets miễn phí. Mẫu trả phí có thể thêm biểu đồ, giao diện, nhưng giá trị của nhật ký nằm ở việc bạn ghi đủ và xem lại đều. Mẫu được bán kèm khóa học thì nên xét khóa học đó riêng, vì cái bảng tự dựng được.
Mua tích lũy dài hạn có cần ghi nhật ký không?
Có, nhưng gọn hơn. Mỗi lần mua ghi ngày, giá, khối lượng, phí và lý do giữ, để tính được giá vốn bình quân và biết lúc nào kế hoạch giữ đã đổi. Cột điểm dừng lỗ và hệ số R ít ý nghĩa với khoản mua để giữ nhiều năm. Mỗi lần bán vẫn cần ghi giá bán và thuế 0,1%.
Lệnh hòa vốn tính là thắng hay thua?
Nên tách riêng và ghi rõ quy ước. Công thức đếm lệnh thắng bằng điều kiện lãi lỗ ròng lớn hơn 0 sẽ không đếm lệnh hòa, nhưng lệnh hòa vẫn nằm trong tổng số lệnh nên kéo tỷ lệ thắng xuống. Khi đã trừ phí và thuế, lệnh hòa vốn đúng 0 đồng rất hiếm; thường là một khoản lỗ nhỏ.
Dùng app nhật ký tự kết nối với sàn có an toàn không?
Các app này thường đọc dữ liệu qua khóa API (chuỗi ký tự cho phần mềm khác truy cập tài khoản sàn). Nếu dùng, chỉ tạo khóa có quyền đọc, không bật quyền giao dịch hay rút tiền, và không đưa mật khẩu hay mã xác thực hai lớp cho ai. Bảng tính tự làm thì không cần cấp quyền gì, dữ liệu nằm trong tay bạn.
Ghi cảm xúc vào nhật ký để làm gì?
Để so cảm xúc lúc vào lệnh với kết quả sau nhiều lệnh. Cho điểm 1 đến 5 (1 rất bình tĩnh, 5 rất nôn nóng) là đủ. Sau vài chục lệnh, lọc các lệnh điểm 4, 5 và xem lãi lỗ ròng trung bình của nhóm đó so với phần còn lại: đó là bằng chứng của riêng bạn, không phải lời khuyên chung.
Nguồn tham khảo 10
Kiểm chứng ngày 07/11/2026
- 01Fischhoff (1975): Hindsight ≠ foresight: The effect of outcome knowledge on judgment under uncertainty, Journal of Experimental Psychology: Human Perception and Performance 1(3), 288–299doi.org
- 02Bản in lại bài Fischhoff (1975) trên Quality and Safety in Health Care (2003), PubMed Centralpmc.ncbi.nlm.nih.gov
- 03Baron và Hershey (1988): Outcome bias in decision evaluation, Journal of Personality and Social Psychology 54(4), 569–579doi.org
- 04Odean (1998): Are Investors Reluctant to Realize Their Losses?, Journal of Finance 53(5), 1775–1798faculty.haas.berkeley.edu
- 05Barber và Odean (2000): Trading Is Hazardous to Your Wealth, Journal of Finance 55(2), 773–806faculty.haas.berkeley.edu
- 06Coin Metrics Community API: BTC PriceUSD hằng ngày năm 2024 (tải 07/11/2026)community-api.coinmetrics.io
- 07Coin Metrics: định nghĩa PriceUSD (giá đóng cửa cuối ngày UTC)gitbook-docs.coinmetrics.io
- 08Công báo: Luật Thuế thu nhập cá nhân 109/2025/QH15 (Công báo số 37 ngày 22/01/2026)congbaocdn.chinhphu.vn
- 09Công báo: Thông tư 41/2026/TT-BTC hướng dẫn kê khai, khấu trừ, nộp thuế, quyết toán thuế trên thị trường tài sản mã hóacongbao.chinhphu.vn
- 10Thông tư 89/2026/TT-BTC (bản ký số trên Cổng TTĐT Chính phủ)datafiles.chinhphu.vn


