Phí maker, taker và spread là gì? Cách đọc biểu phí sàn
Maker là lệnh chờ trên sổ lệnh, taker là lệnh khớp ngay, phí taker thường cao hơn. Spread, ví dụ tính tay bằng đồng kèm thuế 0,1%, biểu phí sàn trong nước.
Mục lục 6 phần
Tóm tắt nhanh
- Maker là lệnh nằm chờ trên sổ lệnh (thêm thanh khoản), taker là lệnh khớp ngay vào lệnh đang chờ (lấy thanh khoản). Sàn dùng mô hình này thường thu phí taker cao hơn phí maker.
- Spread (chênh lệch giá mua bán) không phải phí sàn thu nhưng là chi phí thật: lệnh market mua ở giá bán tốt nhất và bán ở giá mua tốt nhất, nên mỗi vòng mua bán bạn mất khoản chênh này.
- Ví dụ trong bài: một vòng mua rồi bán 0,025 BTC bằng lệnh market, phí taker giả định 0,2%, mất 299.975 đồng (khoảng 0,6%): 200.000 đồng phí, 50.000 đồng spread, 49.975 đồng thuế 0,1%.
- Tính đến 28/10/2026 cả 5 sàn trong nước đều là hồ sơ đang xin cấp phép, chưa được phép cung cấp dịch vụ; biểu phí của cả 5: Chưa công bố.
- Nghị quyết 05/2025/NQ-CP buộc sàn được cấp phép công khai biểu giá dịch vụ, không thu ngoài biểu giá và báo trước tối thiểu 30 ngày khi đổi biểu giá.

Phí maker và phí taker là hai mức phí giao dịch mà nhiều sàn áp cho hai loại lệnh: maker là lệnh nằm chờ trên sổ lệnh (thêm thanh khoản cho người khác), taker là lệnh khớp ngay vào lệnh đang chờ (lấy thanh khoản đi). Phí taker thường cao hơn phí maker. Spread, tức chênh lệch giữa giá bán tốt nhất và giá mua tốt nhất, không nằm trong biểu phí nhưng là chi phí bạn trả mỗi lần dùng lệnh market.
Tính đến 28/10/2026, cả 5 sàn trong nước đều là hồ sơ đang xin Bộ Tài chính cấp phép, chưa được phép cung cấp dịch vụ, và biểu phí của cả 5: Chưa công bố. Bài này giải thích từng khoản phí, tính tay một ví dụ bằng đồng có cả thuế 0,1%, và chỉ cách đọc biểu phí khi các sàn công bố.
Maker và taker là gì?
Maker là người đặt lệnh chờ lên sổ lệnh, taker là người khớp vào lệnh đang chờ đó. Sổ lệnh là danh sách lệnh mua và lệnh bán chưa khớp, xếp theo giá (cách đọc sổ lệnh).
- Taker (lấy thanh khoản): lệnh market, hoặc lệnh limit đặt ở giá khớp được ngay. Lệnh của bạn “ăn” vào các lệnh đang chờ và khớp tức thì.
- Maker (tạo thanh khoản): lệnh limit đặt ở giá chưa khớp được ngay, ví dụ đặt mua thấp hơn giá bán tốt nhất. Lệnh nằm lại trên sổ, chờ người khác khớp vào.
Một lệnh có thể vừa maker vừa taker: phần khớp ngay tính phí taker, phần còn lại nằm chờ rồi khớp sau tính phí maker.
Vì sao taker trả nhiều hơn? Theo bản ghi nhớ của Vụ Giao dịch và Thị trường thuộc Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch Mỹ (SEC, 20/10/2015) về sàn cổ phiếu Mỹ, mô hình maker, taker được dùng để “incentivizing market participants to provide liquidity at the most competitive prices” (khuyến khích người tham gia cung cấp thanh khoản ở giá cạnh tranh nhất). Ví dụ trong bản ghi nhớ: sàn thu 0,003 USD mỗi cổ phiếu của bên taker, trả 0,002 USD cho bên maker và giữ phần chênh 0,001 USD. Lệnh chờ càng nhiều thì sổ lệnh càng dày, chênh lệch giá càng hẹp; ý nghĩa của độ dày sổ lệnh có ở bài thanh khoản là gì.
Spread là gì trong trading?
Spread là khoảng cách giữa giá bán thấp nhất và giá mua cao nhất đang chờ trên sổ lệnh tại cùng một lúc; đó là chi phí ẩn của lệnh market. Khi mua bằng lệnh market, bạn khớp ở giá bán tốt nhất; khi bán bằng lệnh market, bạn khớp ở giá mua tốt nhất. Mua rồi bán ngay lập tức, dù giá không đổi, bạn vẫn mất đúng phần spread.
Ví dụ
Giá mua tốt nhất 1.999 triệu đồng, giá bán tốt nhất 2.001 triệu đồng mỗi BTC (số minh họa). Spread là 2 triệu đồng, tính theo tỷ lệ: 2 ÷ 2.001 ≈ 0,1%. Sổ lệnh mỏng thì spread rộng, lệnh lớn còn chịu thêm trượt giá khi ăn qua nhiều mức giá.
Ví dụ tính tay: một vòng mua rồi bán, có thuế 0,1%
Mua rồi bán 0,025 BTC bằng lệnh market tốn 299.975 đồng (khoảng 0,6% số tiền); dùng lệnh limit và cả hai lệnh đều khớp thì tốn 100.025 đồng (khoảng 0,2%). Giả định cho cả ví dụ, không phải biểu phí của sàn nào:
- Giá mua tốt nhất 1.999 triệu đồng, giá bán tốt nhất 2.001 triệu đồng mỗi BTC; giá thị trường không đổi trong lúc bạn mua bán; sổ lệnh đủ dày để không trượt giá.
- Phí maker 0,1%, phí taker 0,2%, thu bằng đồng, cộng vào khi mua và trừ vào tiền nhận khi bán.
- Thuế thu nhập cá nhân 0,1% trên giá chuyển nhượng mỗi lần bán, không trừ phí (căn cứ và cách tính). Lần mua không chịu thuế của bạn; thuế của lần đó thuộc về người bán cho bạn.
Cách A: mua market, bán market (taker cả hai chiều)
| Bước | Phép tính | Số tiền (đồng) |
|---|---|---|
| Mua ở giá bán tốt nhất | 0,025 × 2.001.000.000 | 50.025.000 |
| Phí taker khi mua | 50.025.000 × 0,2% | 100.050 |
| Tổng chi | 50.025.000 + 100.050 | 50.125.050 |
| Bán ở giá mua tốt nhất | 0,025 × 1.999.000.000 | 49.975.000 |
| Phí taker khi bán | 49.975.000 × 0,2% | 99.950 |
| Thuế 0,1% | 49.975.000 × 0,1% | 49.975 |
| Tiền nhận về | 49.975.000 − 99.950 − 49.975 | 49.825.075 |
Chi phí cả vòng: 50.125.050 − 49.825.075 = 299.975 đồng, khoảng 0,6% số tiền bỏ ra. Tách ra: phí 100.050 + 99.950 = 200.000 đồng; spread 0,025 × 2.000.000 = 50.000 đồng; thuế 49.975 đồng. Cộng lại 200.000 + 50.000 + 49.975 = 299.975 đồng, khớp với kết quả trên.
Cách B: mua limit ở 1.999 triệu, bán limit ở 2.001 triệu (maker cả hai chiều, giả định đều khớp)
- Mua: 0,025 × 1.999.000.000 = 49.975.000 đồng; phí maker 49.975.000 × 0,1% = 49.975 đồng; tổng chi 50.024.975 đồng.
- Bán: 0,025 × 2.001.000.000 = 50.025.000 đồng; phí maker 50.025 đồng; thuế 50.025.000 × 0,1% = 50.025 đồng; nhận về 50.025.000 − 50.025 − 50.025 = 49.924.950 đồng.
- Chi phí cả vòng: 50.024.975 − 49.924.950 = 100.025 đồng, khoảng 0,2%.
Cách B rẻ hơn 199.950 đồng nhưng có cái giá: lệnh limit có thể không khớp, hoặc chỉ khớp một phần, trong khi giá chạy mất. Thuế 0,1% thì không tránh được bằng loại lệnh nào, vì nó tính trên số tiền bán ra. Muốn tự tính thuế cho số tiền của mình, dùng công cụ tính thuế tài sản mã hóa.
Ngoài phí maker, taker, sàn còn thu những khoản nào?
Đọc biểu phí theo cả hành trình của đồng tiền: nạp vào, giao dịch, rút ra. Các khoản thường gặp:
| Khoản | Khi nào phát sinh | Điểm cần đọc kỹ |
|---|---|---|
| Phí giao dịch (maker, taker) | Mỗi lệnh khớp | Có bậc theo khối lượng không, thu bằng đồng hay bằng tài sản nhận được |
| Spread | Mỗi lệnh market | Không ghi trong biểu phí, phải xem sổ lệnh |
| Phí nạp, rút đồng | Chuyển tiền giữa ngân hàng và sàn | Mức cố định hay theo phần trăm, hạn mức |
| Phí rút tài sản mã hóa | Rút coin ra ví ngoài | Gồm phí mạng blockchain, khác nhau theo mạng |
| Thuế 0,1% | Mỗi lần bán | Không phải phí của sàn, sàn khấu trừ và nộp thay |
Phí rút coin thường gồm cả phí mạng (gas) trả cho người xác thực giao dịch trên blockchain; đây là khoản khác với phí sàn thu, nên khi so sánh cần tách hai phần nếu biểu phí có ghi.
Mua bán USDT qua chợ P2P thường không có phí maker, taker; chi phí nằm ở phần chênh giá người bán đặt, tăng giảm theo cung cầu. Cách đọc phần chênh này có ở bài depeg là gì và vì sao giá USDT theo VND tăng giảm.
Với giao dịch qua tổ chức được cấp phép, sàn khấu trừ thuế “tại thời điểm xác nhận giao dịch chuyển nhượng tài sản mã hóa thành công” (Thông tư 41/2026/TT-BTC Điều 4 khoản 2 điểm a); chi tiết ở trang ai khấu trừ thuế tài sản mã hóa.
Biểu phí của 5 sàn trong nước đang xin cấp phép
Tính đến 28/10/2026, chưa sàn nào được cấp phép và chưa sàn nào công bố biểu phí giao dịch chính thức. Bảng dưới lấy từ dữ liệu Vietnambit theo dõi từng hồ sơ; khi một sàn công bố biểu phí theo Nghị quyết 05, Vietnambit cập nhật kèm nguồn.
| Sàn | Tình trạng | Phí giao dịch | Phí nạp, rút đồng | Phí rút tài sản mã hóa |
|---|---|---|---|---|
| CAEX | Hồ sơ đang xem xét, chưa được cấp phép | Chưa công bố | Chưa công bố | Chưa công bố |
| SCEX | Hồ sơ đang xem xét, chưa được cấp phép | Chưa công bố | Chưa công bố | Chưa công bố |
| TCEX | Hồ sơ đang xem xét, chưa được cấp phép | Chưa công bố | Chưa công bố | Chưa công bố |
| VIXEX | Hồ sơ đang xem xét, chưa được cấp phép | Chưa công bố | Chưa công bố | Chưa công bố |
| Tài sản số Việt Nam | Hồ sơ đang xem xét, chưa được cấp phép | Chưa công bố | Chưa công bố | Chưa công bố |
Cập nhật 28/10/2026. Ba hồ sơ CAEX, SCEX, TCEX đã được Bộ Công an thẩm định, đồng ý hồ sơ đề xuất an toàn hệ thống thông tin cấp độ 4 (22–23/10/2026); đây là một điều kiện của hồ sơ, chưa phải giấy phép. Tiến độ từng hồ sơ có ở trang sàn tài sản mã hóa được cấp phép. Vietnambit không so phí với sàn nước ngoài, vì sàn nước ngoài không phải tổ chức được cấp phép tại Việt Nam.
Pháp luật Việt Nam quy định gì về biểu phí của sàn?
Sàn được cấp phép được thu giá dịch vụ, nhưng phải công khai biểu giá, không thu ngoài biểu giá và báo trước tối thiểu 30 ngày khi thay đổi. Căn cứ:
- Nghị quyết 05/2025/NQ-CP Điều 15 khoản 1 điểm b: tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa được quyền thu giá dịch vụ.
- Điều 15 khoản 2 điểm e: phải “Công khai biểu giá dịch vụ”, “không được thu thêm bất kỳ loại giá dịch vụ nào ngoài biểu giá dịch vụ đã công bố”, và thay đổi biểu giá phải “thông báo đến nhà đầu tư tối thiểu 30 ngày trước thời điểm áp dụng”.
- Nghị định 284/2026/NĐ-CP Điều 8 khoản 2 điểm d: tổ chức cung cấp dịch vụ không công khai biểu giá dịch vụ, hoặc không thông báo đúng hạn khi đổi biểu giá, có thể bị phạt từ 30 đến 50 triệu đồng.
- Nghị quyết 05 Điều 4 khoản 7: giao dịch, thanh toán tài sản mã hóa phải bằng Đồng Việt Nam, nên giá và tiền giao dịch trên sàn trong nước tính bằng đồng.
Nghĩa là khi sàn đi vào hoạt động, biểu phí công bố là con số ràng buộc: khoản nào không có trong biểu phí thì sàn không được thu. Spread và trượt giá không phải khoản sàn thu nên không nằm trong biểu phí; người dùng phải tự xem trên sổ lệnh.
Sau 6 tháng kể từ giấy phép đầu tiên, cá nhân trong nước giao dịch tài sản mã hóa không qua tổ chức được cấp phép có thể bị phạt 15–25 triệu đồng (Nghị quyết 05 Điều 7 khoản 2; Nghị định 284 Điều 9 khoản 1, Điều 4 khoản 2), dù phí ở nơi khác thấp hơn.
Chia sẻ bài viết
Câu hỏi thường gặp
Lệnh limit lúc nào cũng được tính phí maker?
Không. Lệnh limit đặt ở giá khớp được ngay (ví dụ đặt mua cao hơn hoặc bằng giá bán tốt nhất) sẽ khớp ngay vào lệnh đang chờ, nên thường bị tính là taker. Chỉ phần lệnh nằm lại trên sổ rồi được người khác khớp vào mới là maker. Mỗi sàn ghi quy tắc này trong biểu phí.
Phí maker âm là gì?
Là khi sàn trả tiền cho bên đặt lệnh chờ thay vì thu phí, gọi là hoàn phí (rebate). Theo bản ghi nhớ của Vụ Giao dịch và Thị trường thuộc SEC (2015) về thị trường cổ phiếu Mỹ, sàn lấy tiền thu từ bên taker để trả cho bên maker và hưởng phần chênh. Có hoàn phí hay không và mức bao nhiêu do biểu phí từng sàn quy định.
Phí giao dịch có được trừ trước khi tính thuế 0,1% không?
Văn bản không nhắc việc trừ phí. Luật Thuế TNCN 109/2025/QH15 và Nghị định 253/2026/NĐ-CP chỉ nói thuế bằng giá chuyển nhượng nhân 0,1%, nên ví dụ trong bài tính thuế trên giá bán, không trừ phí.
Mua bán P2P có mất phí maker, taker không?
Chợ P2P không khớp lệnh qua sổ lệnh nên thường không có phí maker, taker theo nghĩa trên; chi phí nằm ở giá mà người bán đặt, thường cao hơn giá thị trường. Cách chợ P2P hoạt động và rủi ro có ở bài P2P là gì.
Sàn miễn phí giao dịch có thật sự rẻ hơn?
Chưa chắc. Sàn miễn phí có thể có chênh lệch giá mua bán rộng hơn, hoặc thu ở khâu khác như phí rút. Cách so đúng là tính tổng chi phí cho một vòng mua rồi bán cùng một số tiền: phí cả hai chiều, chênh lệch giá, trượt giá, phí nạp rút và thuế.
Nguồn tham khảo 5
Kiểm chứng ngày 28/10/2026
- 01SEC Division of Trading and Markets (20/10/2015): Maker-Taker Fees on Equities Exchangessec.gov
- 02Cổng TTĐT Chính phủ: toàn văn Nghị quyết 05/2025/NQ-CPxaydungchinhsach.chinhphu.vn
- 03Công báo: Nghị định 284/2026/NĐ-CPcongbao.chinhphu.vn
- 04Công báo: Luật Thuế thu nhập cá nhân 109/2025/QH15congbao.chinhphu.vn
- 05Công báo: Thông tư 41/2026/TT-BTC về kê khai, khấu trừ, nộp thuế trên thị trường tài sản mã hóacongbao.chinhphu.vn


