Sổ cái phân tán (DLT) là gì? Khác blockchain thế nào
Sổ cái phân tán (DLT) là sổ ghi chép được nhiều bên cùng giữ bản sao và cùng cập nhật. Blockchain là một loại DLT; có DLT không dùng chuỗi khối như hashgraph.
Mục lục 6 phần
Tóm tắt nhanh
- Sổ cái phân tán (distributed ledger technology, DLT) là một cơ sở dữ liệu ghi giao dịch mà nhiều máy tính, thường thuộc nhiều bên, cùng giữ bản sao và cùng thống nhất nội dung theo một quy tắc chung, thay vì một bên giữ sổ gốc.
- Blockchain là một loại sổ cái phân tán, trong đó giao dịch được gom thành khối và mỗi khối nối mật mã với khối trước. Có sổ cái phân tán không xếp thành chuỗi khối, ví dụ Hedera dùng đồ thị hashgraph.
- Khác biệt lớn thứ hai là ai được tham gia: sổ cái công khai như Bitcoin ai cũng chạy nút được; sổ cái có cấp phép như NDAChain chỉ cho tổ chức được duyệt vận hành nút xác thực.
- Trong các văn bản VietnamBit đã đối chiếu, cụm “sổ cái phân tán” xuất hiện ở Luật 23/2026/QH16 (Điều 33a Luật Phòng, chống rửa tiền, hiệu lực 01/12/2026); Quyết định 1236/QĐ-TTg (đã dò cả 22 trang) dùng chữ “chuỗi khối”, chưa thấy chữ “sổ cái”; Nghị quyết 05/2025/NQ-CP không nhắc công nghệ.
- Chữ “công nghệ DLT” trong lời mời mua token không nói gì về giá trị hay tính hợp pháp của token đó.

Sổ cái phân tán (distributed ledger technology, viết tắt DLT, còn gọi là công nghệ sổ cái phân tán) là một sổ ghi giao dịch mà nhiều máy tính, thường thuộc nhiều tổ chức hay cá nhân khác nhau, cùng giữ bản sao và cùng thống nhất nội dung theo một quy tắc chung. Không có một “sổ gốc” do một bên nắm: muốn ghi thêm hay sửa, phải đủ số bên tham gia đồng ý. Blockchain là loại sổ cái phân tán phổ biến nhất, nhưng không phải loại duy nhất.
Bài này giải thích sổ cái phân tán khác cơ sở dữ liệu thường và khác blockchain ở đâu, các loại sổ cái theo cấu trúc và theo quyền tham gia, và văn bản pháp luật Việt Nam dùng chữ “sổ cái phân tán” ở chỗ nào.
Sổ cái phân tán là gì?
Là cơ sở dữ liệu được nhân bản trên nhiều nút (node), các nút tự đồng bộ với nhau bằng một cơ chế đồng thuận, nên không bên nào một mình quyết định nội dung sổ. Ba thành phần:
- Sổ cái. Danh sách giao dịch hoặc trạng thái (ai có bao nhiêu, hợp đồng nào đang ở trạng thái gì).
- Mạng các nút. Mỗi nút giữ một bản sao và kiểm tra giao dịch mới theo cùng quy tắc.
- Cơ chế đồng thuận. Quy tắc để các nút thống nhất giao dịch nào được ghi, theo thứ tự nào, và xử lý khi hai nút có bản khác nhau.
So với cơ sở dữ liệu của một ngân hàng hay một công ty:
| Cơ sở dữ liệu tập trung | Sổ cái phân tán | |
|---|---|---|
| Ai giữ bản gốc | Một bên quản trị | Nhiều nút cùng giữ bản sao |
| Ai sửa được dữ liệu | Bên quản trị | Chỉ khi đủ số nút đồng thuận |
| Người dùng phải tin ai | Bên quản trị | Quy tắc đồng thuận và các bên vận hành nút |
| Tốc độ, chi phí | Nhanh, rẻ | Chậm hơn, tốn hơn vì phải đồng bộ |
| Khi bên quản trị gặp sự cố | Hệ thống phụ thuộc vào bên đó, kể cả bản dự phòng | Các nút còn lại vẫn chạy (tùy thiết kế) |
Sổ cái phân tán hữu ích khi nhiều bên cần dùng chung một bộ dữ liệu mà không muốn, hoặc không thể, tin một bên duy nhất giữ sổ. Khi đã có một bên đáng tin giữ sổ, cơ sở dữ liệu tập trung thường đơn giản và rẻ hơn.
Sổ cái phân tán khác blockchain thế nào?
Blockchain là một cách tổ chức sổ cái phân tán: giao dịch được gom thành khối, mỗi khối nối mật mã với khối trước thành chuỗi. Mọi blockchain là sổ cái phân tán, nhưng không phải sổ cái phân tán nào cũng là blockchain.
Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ Quốc gia Mỹ (NIST, báo cáo IR 8202, 10/2018) định nghĩa blockchain là “distributed digital ledgers of cryptographically signed transactions that are grouped into blocks” (sổ cái số phân tán gồm các giao dịch có chữ ký mật mã được gom thành khối), trong đó “each block is cryptographically linked to the previous one” (mỗi khối được nối mật mã với khối trước), và khối mới được nhân bản tới các bản sao của sổ trong mạng. Phần định nghĩa này cho thấy hai lớp: “sổ cái phân tán” là lớp chung, “gom thành khối, nối thành chuỗi” là đặc điểm riêng của blockchain.
Ví dụ một sổ cái phân tán không theo chuỗi khối
Hedera dùng thuật toán hashgraph, sắp thứ tự giao dịch bằng một đồ thị sự kiện thay vì chuỗi khối tuyến tính. Cách hoạt động và các thông số của mạng này ở trang Hedera (HBAR).
Các loại sổ cái phân tán
Có hai cách chia hay dùng: theo cấu trúc dữ liệu (chuỗi khối hay đồ thị) và theo quyền tham gia (công khai hay có cấp phép). Các loại blockchain công khai, riêng tư, liên minh đã có bảng ở bài blockchain là gì; bảng dưới đặt chúng cạnh các sổ cái không theo chuỗi khối:
| Loại | Cấu trúc | Ai chạy nút ghi sổ | Ví dụ |
|---|---|---|---|
| Blockchain công khai | Chuỗi khối | Bất kỳ ai đáp ứng quy tắc mạng | Bitcoin, Ethereum |
| Blockchain có cấp phép | Chuỗi khối | Tổ chức được duyệt | NDAChain |
| Sổ cái dạng đồ thị | Đồ thị sự kiện (DAG, hashgraph) | Tùy mạng | Hedera |
| Sổ cái phân tán dùng nội bộ, liên minh | Tùy thiết kế, không nhất thiết có khối | Một nhóm tổ chức đã biết nhau | Hệ thống đối chiếu giữa ngân hàng, chuỗi cung ứng |
NIST mô tả sự khác biệt về quyền tham gia rất gọn: nếu ai cũng công bố được khối mới thì mạng là “permissionless” (không cần cấp phép); nếu chỉ một số người dùng nhất định được công bố khối thì mạng là “permissioned” (có cấp phép), “like a corporate intranet that is controlled” (giống mạng nội bộ có kiểm soát của doanh nghiệp).
NDAChain, nền tảng chuỗi khối quốc gia của Việt Nam, là loại có cấp phép: theo sách trắng của dự án, chỉ tổ chức được duyệt mới vận hành nút xác thực, cơ chế đồng thuận là bằng chứng phân quyền (Proof-of-Authority). Mục đích, các thông số và những điều chưa công bố ở bài NDAChain là gì.
Sổ cái phân tán dùng để làm gì?
Ngoài tài sản mã hóa, sổ cái phân tán được dùng ở những chỗ nhiều bên cần chung một bản ghi khó sửa: đối chiếu thanh toán, truy xuất nguồn gốc, xác thực giấy tờ, định danh số. Một số lưu ý khi đọc tin “ứng dụng DLT”:
- Nhiều ứng dụng ngoài tài sản mã hóa dùng sổ cái có cấp phép, chạy giữa các tổ chức đã biết nhau, và không có token để công chúng mua bán.
- CBDC không bắt buộc chạy trên sổ cái phân tán. Tiền số của ngân hàng trung ương có thể chạy trên hệ thống tập trung; xem bài CBDC là gì.
- “Dùng DLT” không đồng nghĩa với “phi tập trung”. Một sổ cái có cấp phép với vài nút do cùng một nhóm vận hành thì mức độ phân quyền phụ thuộc vào nhóm đó.
Văn bản pháp luật Việt Nam dùng chữ “sổ cái phân tán” ở đâu?
Trong các văn bản VietnamBit đã đối chiếu nguyên văn, cụm “sổ cái phân tán” xuất hiện ở Luật 23/2026/QH16; các văn bản về chiến lược và thí điểm tài sản mã hóa dùng chữ “chuỗi khối” hoặc không nhắc tới công nghệ. Chi tiết:
| Văn bản | Đoạn đã đọc | Có chữ “sổ cái phân tán” không |
|---|---|---|
| Luật 23/2026/QH16 (sửa Luật Phòng, chống rửa tiền), hiệu lực 01/12/2026 | Điều 2 khoản 2, 8, 9 và Điều 4 | Có, ở Điều 33a khoản 6 |
| Quyết định 1236/QĐ-TTg (22/10/2024), Chiến lược quốc gia về công nghệ chuỗi khối | Cả 22 trang, gồm phụ lục (dò chữ trên bản nhận dạng từ bản quét) | Chưa thấy; văn bản dùng “công nghệ chuỗi khối (blockchain)” |
| Nghị quyết 05/2025/NQ-CP về thí điểm thị trường tài sản mã hóa | Toàn văn | Không; định nghĩa tài sản mã hóa theo “công nghệ mã hóa hoặc công nghệ số có chức năng tương tự” |
| Luật Công nghiệp công nghệ số 71/2025/QH15 | Điều 1, 2, 12, 46–51 | Chưa thấy trong các điều đã đọc |
Đoạn ở Luật 23/2026: Điều 33a liệt kê dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa, khoản 6 là giao dịch tài sản mã hóa có tính năng tăng cường ẩn danh, dùng dịch vụ trộn, hoặc “thực hiện nhiều lần chuyển đổi từ tài sản mã hóa trên sổ cái phân tán công khai, minh bạch sang tài sản mã hóa có tính năng tăng cường ẩn danh, làm gián đoạn khả năng truy vết giao dịch”. Cách dùng chữ ở đây khớp với nghĩa kỹ thuật: sổ cái công khai cho phép truy vết, các đồng có tính ẩn danh làm đứt dấu vết; xem thêm bài privacy coin là gì.
Quyết định 1236 đặt mục tiêu hình thành “Hạ tầng chuỗi khối Việt Nam” đến năm 2025 và củng cố, mở rộng “Hạ tầng chuỗi khối quốc gia” đến năm 2030 (Điều 1 mục III). Luật 71/2025 Điều 47 khoản 2 điểm b định nghĩa tài sản mã hóa là loại tài sản số “sử dụng công nghệ mã hóa hoặc công nghệ số có chức năng tương tự để xác thực”, tức định nghĩa theo chức năng, không gắn với một công nghệ sổ cái cụ thể; giải thích các loại tài sản số ở trang tài sản số là gì.
Token gắn nhãn “công nghệ DLT” có đáng tin hơn không?
Không. Công nghệ ghi sổ của một mạng không nói gì về giá trị của token chạy trên đó, cũng không làm token đó được chào bán hợp pháp ở Việt Nam. Theo Nghị quyết 05/2025/NQ-CP Điều 6 khoản 1, tài sản mã hóa phát hành trong thí điểm “chỉ được chào bán, phát hành cho nhà đầu tư nước ngoài”. Chỉ tổ chức được Bộ Tài chính cấp phép mới được quảng cáo, tiếp thị liên quan đến tài sản mã hóa (Điều 4 khoản 4). Tính đến 29/10/2026, chưa sàn nào được cấp phép.
Lời mời kiểu “dự án dùng công nghệ sổ cái phân tán như các ngân hàng lớn, sắp lên sàn” là quảng bá token, không phải thông tin công nghệ. Cách tự kiểm một dự án ở bài cách thẩm định dự án crypto.
Chia sẻ bài viết
Liên quan
Câu hỏi thường gặp
Sổ cái phân tán và cơ sở dữ liệu thông thường khác nhau thế nào?
Cơ sở dữ liệu thông thường có một bên quản trị, bên đó sửa được dữ liệu và người khác phải tin bên đó. Sổ cái phân tán có nhiều bên cùng giữ bản sao, một thay đổi chỉ được ghi khi đủ số bên đồng thuận theo quy tắc, nên một bên khó âm thầm sửa lịch sử. Đổi lại, nó chậm hơn và tốn tài nguyên hơn.
Ethereum là DLT hay blockchain?
Cả hai: Ethereum là một blockchain công khai, và blockchain là một loại sổ cái phân tán. Gọi Ethereum là DLT không sai, chỉ là ít cụ thể hơn.
Ngân hàng dùng sổ cái phân tán để làm gì?
Thường là sổ cái có cấp phép giữa một nhóm tổ chức đã biết nhau, để đối chiếu giao dịch, chứng từ thương mại, thanh toán liên ngân hàng mà không phải gửi qua lại nhiều bản sổ riêng. Các hệ thống như vậy thường không có token để công chúng mua bán.
CBDC có phải chạy trên sổ cái phân tán không?
Không bắt buộc. CBDC là tiền số do ngân hàng trung ương phát hành; nó có thể chạy trên sổ cái phân tán hoặc trên hệ thống tập trung. Chi tiết ở bài CBDC là gì.
Sổ cái phân tán có an toàn tuyệt đối không?
Không. Nó khó bị một bên âm thầm sửa, nhưng vẫn có thể bị tấn công khi một nhóm kiểm soát đủ số nút, khi phần mềm có lỗi, hoặc khi khóa riêng của người dùng bị lộ. Với sổ cái có cấp phép, độ tin cậy còn phụ thuộc vào các tổ chức được giao vận hành nút.
Nguồn tham khảo 7
Kiểm chứng ngày 29/10/2026
- 01NIST IR 8202 (10/2018): Blockchain Technology Overviewnvlpubs.nist.gov
- 02Hedera Docs: Hashgraph consensus algorithmdocs.hedera.com
- 03NDAChain: sách trắng tiếng Việts3-sgn10.fptcloud.com
- 04Công báo: Luật 23/2026/QH16 sửa đổi Luật Phòng, chống rửa tiền (Điều 33a)congbao.chinhphu.vn
- 05Cổng TTĐT Chính phủ: Quyết định 1236/QĐ-TTg, Chiến lược quốc gia về ứng dụng và phát triển công nghệ chuỗi khối (bản ký số)datafiles.chinhphu.vn
- 06Công báo: Luật Công nghiệp công nghệ số 71/2025/QH15congbao.chinhphu.vn
- 07Chính phủ: toàn văn Nghị quyết 05/2025/NQ-CP về thí điểm thị trường tài sản mã hóaxaydungchinhsach.chinhphu.vn


