Bỏ qua tới nội dung

Không phải sàn giao dịch, không nhận tiền.

EIP là gì, EIP-1559 và EIP-712 thay đổi Ethereum thế nào?

EIP là đề xuất thay đổi Ethereum, công bố ở eips.ethereum.org. EIP khác ERC thế nào, EIP-1559 đốt phí ra sao, chữ ký EIP-712 và chiêu lừa ký permit.

Đăng 13 phút đọc 16 nguồn
Mục lục 8 phần
  1. 01EIP là gì?
  2. 02EIP khác ERC thế nào?
  3. 03Một EIP đi từ ý tưởng tới mạng chính thế nào?
  4. 04Những EIP người dùng hay gặp
  5. 05EIP-1559 là gì?
  6. 06EIP-712 là gì?
  7. 07EIP-7702 và ERC-4337 khác nhau thế nào?
  8. 08Ethereum nâng cấp thì người dùng cần làm gì?
  9. Câu hỏi thường gặp
  10. Nguồn tham khảo

Tóm tắt nhanh

  • EIP (Ethereum Improvement Proposal, đề xuất cải tiến Ethereum) là văn bản thiết kế mô tả một thay đổi cho Ethereum, công bố ở eips.ethereum.org theo quy trình của EIP-1. Ngày 29/10/2026 trang này liệt kê 1.164 EIP nhóm Standards Track, 43 Meta và 23 Informational.
  • ERC là nhóm EIP dành cho chuẩn ứng dụng như token: ERC-20 chính là EIP-20. EIP nhóm Core chỉ chạy trên mạng chính khi được đưa vào một đợt nâng cấp có tên. Trạng thái Final chưa đủ.
  • EIP-1559 (nâng cấp London, 05/8/2021) tách phí gas thành phí cơ bản bị đốt và tiền tip cho người tạo khối. Theo Etherscan, khoảng 4,64 triệu ETH đã bị đốt tính đến 29/10/2026.
  • EIP-712 giúp ví hiển thị rõ từng trường của chữ ký. Nhưng chữ ký permit (ERC-2612) dùng định dạng này vẫn trao quyền rút token, và trang lừa đảo hay ngụy trang nó thành bước “xác minh ví”.
  • Nâng cấp mạng không đòi người giữ ETH làm gì. Ethereum.org cảnh báo ai bảo bạn “nâng cấp” ETH là đang lừa đảo.
EIP là gì, EIP-1559 và EIP-712 thay đổi Ethereum thế nào?

EIP (Ethereum Improvement Proposal, đề xuất cải tiến Ethereum) là một văn bản thiết kế mô tả một thay đổi cho Ethereum: từ quy tắc đồng thuận, cách tính phí, tới chuẩn token hay cách ví ký dữ liệu. Mỗi EIP có một số định danh, một trạng thái (Draft, Review, Last Call, Final…) và được công bố ở eips.ethereum.org theo quy trình ghi trong EIP-1.

Một EIP chỉ là đề xuất. EIP chỉ thay đổi mạng khi các nhóm phát triển phần mềm nút đưa đề xuất vào một đợt nâng cấp có tên, như EIP-1559 được bật trong nâng cấp London ngày 05/8/2021.

Bài không suy ra giá ETH từ các đợt nâng cấp.

EIP là gì?

EIP là tài liệu thiết kế công khai, dùng để đề xuất tính năng mới, thu ý kiến kỹ thuật và ghi lại các quyết định thiết kế của Ethereum.

EIP-1 định nghĩa: “An EIP is a design document providing information to the Ethereum community, or describing a new feature for Ethereum or its processes or environment” (EIP là tài liệu thiết kế cung cấp thông tin cho cộng đồng Ethereum, hoặc mô tả một tính năng mới cho Ethereum, cho quy trình hay môi trường của nó).

Ba điểm cần nắm:

  • Ai cũng viết được. Tác giả (EIP-1 gọi là champion) chịu trách nhiệm thảo luận, xây dựng đồng thuận và ghi lại cả ý kiến phản đối. Biên tập viên EIP (EIP editor) kiểm hình thức trước khi gộp đề xuất vào kho.
  • Mỗi EIP là một tệp văn bản trong kho GitHub ethereum/EIPs, nên lịch sử sửa đổi của tệp cũng là lịch sử của đề xuất.
  • Số EIP chỉ là số định danh. Số này không cho biết đề xuất quan trọng tới đâu, cũng không cho biết đã được áp dụng hay chưa.

Tính đến 29/10/2026, trang chủ eips.ethereum.org liệt kê 1.164 EIP nhóm Standards Track (448 Core, 31 Networking, 60 Interface, 625 ERC), 43 EIP nhóm Meta và 23 EIP nhóm Informational.

EIP khác ERC thế nào?

ERC là một nhóm con của EIP, dành cho chuẩn ở tầng ứng dụng như chuẩn token; ERC-20 và EIP-20 là cùng một văn bản. Theo EIP-1, có ba loại EIP: Standards Track, Meta và Informational. Loại Standards Track chia tiếp thành bốn nhóm.

NhómNói vềVí dụĐổi quy tắc đồng thuận?
CoreTính hợp lệ của khối, giao dịch, đồng thuậnEIP-1559, EIP-7702Thường có, cần nâng cấp mạng
NetworkingGiao tiếp giữa các nút (devp2p)EIP-8Không
InterfaceGiao diện cho ví, ứng dụng: tên hàm, ABI, lệnh RPCEIP-712Không
ERCChuẩn ứng dụng: token, đăng ký tên, định dạng víERC-20, ERC-2612, ERC-4337Không
Meta, InformationalQuy trình; hướng dẫn, thông tinEIP-1Không

Nguồn: EIP-1, mục EIP Types. Nhóm Core theo EIP-1 gồm các thay đổi cần fork đồng thuận và một số thay đổi không bắt buộc fork nhưng cần bàn ở cuộc họp của đội phát triển lõi.

Hai điều hay bị nhầm:

  • Một chuẩn ERC không cần “nâng cấp Ethereum”. ERC chỉ là quy ước để hợp đồng, ví và ứng dụng hiểu nhau. ERC-20 (tạo ngày 19/11/2015, đồng tác giả Fabian Vogelsteller và Vitalik Buterin) quy định các hàm chuẩn của token như transfer, approve, transferFrom; token nào làm theo thì ví đọc được mà không cần mạng thay đổi gì.
  • Từ ngày 25/10/2023, ERC có kho riêng. Hôm đó yêu cầu gộp số 7206 “Move ERCs to separate repository” được gộp vào kho EIPs. README của kho ghi các ERC nay nằm ở kho riêng ethereum/ERCs và mọi ERC mới, mọi sửa đổi ERC cũ phải gửi sang kho mới. Đường dẫn cũ như eips.ethereum.org/EIPS/eip-20 vẫn mở được.

Một EIP đi từ ý tưởng tới mạng chính thế nào?

Một EIP đi qua các trạng thái Draft, Review, Last Call rồi Final; với EIP nhóm Core, Final vẫn chưa có nghĩa là đã chạy trên mạng chính, vì ngày bật do một đợt nâng cấp có tên quyết định.

Trạng tháiNghĩa (theo EIP-1)
IdeaÝ tưởng, chưa vào kho
DraftBản nháp đầu tiên được gộp vào kho khi đúng định dạng
ReviewTác giả xin bình duyệt
Last CallVòng xem xét cuối, thường kéo dài 14 ngày
FinalChuẩn cuối cùng, chỉ còn sửa lỗi và làm rõ câu chữ
StagnantDraft, Review hoặc Last Call không hoạt động từ 6 tháng
WithdrawnTác giả rút, số này không được dùng lại
LivingCập nhật liên tục, không có bản cuối, như EIP-1

Kho EIPs dặn người đọc coi các EIP ở trạng thái Draft, Review hoặc Last Call là “incomplete drafts” (bản nháp chưa hoàn chỉnh), đặc tả còn có thể đổi. Vì vậy một bài viết nói “EIP-xxxx sẽ làm phí giảm” khi EIP đó còn là Draft thực ra đang nói về một bản nháp.

Với EIP nhóm Core, EIP-1 yêu cầu phải có phần mềm nút (client) triển khai mới được coi là Final, và cách tốt nhất để các đội client xem xét đề xuất là trình bày ở cuộc gọi AllCoreDevs. Trang chủ eips.ethereum.org ghi các đợt nâng cấp mạng được bàn riêng ở kho quản lý dự án Ethereum. Muốn biết một EIP Core đã bật chưa, hãy xem trang lịch sử nâng cấp của ethereum.org thay vì chỉ xem trạng thái EIP.

Quyết định không nằm trong tay một người. Ethereum.org viết Ethereum “has no CEO”, và thay đổi được đưa ra “through group agreement rather than by any single person” (bằng thỏa thuận chung, không phải do một cá nhân). Quy trình trong EIP-1 cũng không có bước bỏ phiếu bằng ETH (VietnamBit đọc toàn bộ mục quy trình của EIP-1).

Khi một đợt nâng cấp tới, người vận hành nút phải tự cài phiên bản phần mềm có hỗ trợ đợt đó.

Những EIP người dùng hay gặp

EIPNgày tạoNhómThay đổi gìCó hiệu lực
ERC-20 (EIP-20)19/11/2015ERCChuẩn hàm cho tokenTừng token tự áp dụng
EIP-15514/10/2016CoreThêm mã chuỗi (chain ID) vào chữ ký, chống phát lại giao dịch sang chuỗi khácSpurious Dragon, 22/11/2016
EIP-71212/9/2017InterfaceKý dữ liệu có cấu trúc, ví hiển thị được từng trườngVí, ứng dụng tự hỗ trợ
EIP-155913/4/2019CorePhí cơ bản tự điều chỉnh và bị đốtLondon, 05/8/2021
ERC-261213/4/2020ERCHàm permit: cấp quyền tiêu token bằng chữ kýTừng token tự áp dụng
EIP-367522/7/2021CoreChuyển sang bằng chứng cổ phần (The Merge)Paris, 15/9/2022
ERC-433729/9/2021ERCVí hợp đồng thông minh, không đổi giao thứcKhông cần nâng cấp mạng
EIP-484425/2/2022CoreGói dữ liệu blob giá rẻ cho layer 2Dencun, 13/3/2024
EIP-770207/5/2024CoreVí thường gắn được mã hợp đồngPectra, 07/5/2025

Nguồn: phần đầu của từng EIP trên eips.ethereum.org (ngày tạo, nhóm); ngày nâng cấp theo trang lịch sử nâng cấp của ethereum.org. Đối chiếu ngày 29/10/2026.

EIP-1559 là gì?

EIP-1559 là đề xuất thay cách tính phí gas trên Ethereum: mỗi khối có một mức phí cơ bản do giao thức tự đặt và bị đốt, còn người gửi trả thêm tiền tip cho người tạo khối. Đề xuất được bật trong nâng cấp London ngày 05/8/2021, tại khối 12.965.000.

Trước London, phí là một cuộc đấu giá: ai trả giá gas cao thì được vào khối trước. Theo chính văn bản EIP-1559, cách này làm phí “extremely volatile” (biến động rất mạnh), giao dịch phải chờ nhiều khối và người dùng hay trả thừa. EIP-1559 đổi thành:

  • Phí cơ bản (base fee). Giao thức tính cho từng khối từ khối liền trước. Mỗi khối có mục tiêu dùng một nửa giới hạn gas (hệ số co giãn bằng 2). Khối trước dùng vượt mục tiêu thì phí cơ bản tăng, dùng dưới mục tiêu thì giảm, mỗi khối thay đổi tối đa 1/8, tức 12,5%.
  • Tip (priority fee). Phần trả thêm cho người tạo khối. Văn bản gốc viết cho thợ đào; từ khi Ethereum chuyển sang bằng chứng cổ phần ngày 15/9/2022, người tạo khối là validator.
  • Phí tối đa (max fee). Mức trần người gửi chấp nhận. Người gửi luôn trả phí cơ bản của khối cộng tip đã đặt, miễn tổng hai khoản không vượt phí tối đa.
  • Phí cơ bản bị đốt. Văn bản viết “The base fee is always burned (i.e. it is destroyed by the protocol)”: số ETH này bị xóa khỏi lưu thông, không ai nhận.

Ví dụ tính tay, giả định khối trước có phí cơ bản 10 gwei (1 gwei = 0,000000001 ETH):

  • Khối trước dùng đúng mục tiêu: phí cơ bản khối sau giữ nguyên 10 gwei.
  • Khối trước đầy, tức dùng gấp đôi mục tiêu: phí mới = 10 + 10 × (2 − 1) ÷ 8 = 11,25 gwei.
  • Khối trước trống: phí mới = 10 − 10 × 1 ÷ 8 = 8,75 gwei.

Một lệnh chuyển ETH thông thường dùng 21.000 gas (con số ethereum.org dùng trong ví dụ về London). Với phí cơ bản 11,25 gwei và tip 0,5 gwei:

  • Tổng phí = 21.000 × (11,25 + 0,5) = 246.750 gwei = 0,00024675 ETH.
  • Phần bị đốt = 21.000 × 11,25 = 236.250 gwei = 0,00023625 ETH.
  • Validator nhận = 21.000 × 0,5 = 10.500 gwei = 0,0000105 ETH.

Đây là phí mạng. Phí rút ETH khỏi một sàn là khoản riêng do sàn đặt, không tính theo công thức trên. Cách tính phí trên các mạng khác ở bài phí gas là gì.

Bao nhiêu ETH đã bị đốt?

Theo Etherscan, từ London tới trưa 29/10/2026 khoảng 4,64 triệu ETH đã bị đốt qua phí cơ bản. Trang thống kê nguồn cung của Etherscan ghi “Burnt Fees 4,641,090.20 Ether” và tổng cung hiện tại 122.173.135,09 ETH (đọc khoảng 12 giờ trưa giờ Việt Nam ngày 29/10/2026). Ultrasound.money cùng lúc ghi khoảng 4.641.339 ETH; hai bảng lệch nhau một chút do thời điểm và cách tính.

Lượng đốt đổi theo nhu cầu dùng mạng. Chia tổng 4.641.090 ETH cho 1.911 ngày từ 05/8/2021 tới 29/10/2026 được trung bình khoảng 2.429 ETH mỗi ngày (VietnamBit tự tính). Trong khi đó, theo ultrasound.money, 30 ngày tới 29/10/2026 chỉ có khoảng 1.624 ETH bị đốt, tức khoảng 54 ETH mỗi ngày (VietnamBit tự tính).

Chính EIP-1559 viết không thể khẳng định trước ETH sẽ lạm phát hay giảm phát, vì “we cannot control user demand for block space” (không kiểm soát được nhu cầu chỗ trong khối). Câu “EIP-1559 làm ETH khan hiếm nên giá phải tăng” không có cơ sở trong văn bản gốc. Diễn biến nguồn cung ETH ở hồ sơ Ethereum.

EIP-712 là gì?

EIP-712 là chuẩn băm và ký dữ liệu có cấu trúc có kiểu (typed structured data): thay vì bắt người dùng ký một chuỗi hex khó hiểu, ví hiển thị được từng trường như người nhận quyền, số lượng, thời hạn. Đề xuất tạo ngày 12/9/2017, thuộc nhóm Interface, trạng thái Final, và thêm lệnh RPC eth_signTypedData cho ví.

Động cơ ghi trong văn bản: các thông điệp ký ngoài chuỗi (off-chain) khi đó là “an opaque hex string displayed to the user with little context” (một chuỗi hex khó hiểu hiển thị cho người dùng với rất ít ngữ cảnh). Chữ ký ngoài chuỗi tiết kiệm phí vì không phải gửi giao dịch, nên ngày càng nhiều ứng dụng dùng.

Mỗi chữ ký EIP-712 gắn với một “domain” (miền) gồm tên ứng dụng, phiên bản, chainId (mã chuỗi) và verifyingContract (hợp đồng sẽ kiểm chữ ký). Theo EIP-712, ví nên từ chối ký nếu chainId không khớp chuỗi đang dùng.

Văn bản cũng ghi chuẩn này “does not include replay protection” (không gồm chống phát lại): việc ngăn một chữ ký bị dùng hai lần là trách nhiệm của từng ứng dụng. Phân biệt ký mù và ký rõ ở bài blind signing là gì.

Chiêu ký permit rút token

Hiển thị rõ không có nghĩa là an toàn: chữ ký permit dạng EIP-712 trao quyền tiêu token mà người ký không mất phí nào, nên trang lừa đảo hay ngụy trang nó thành bước “xác minh ví” hay “nhận thưởng”.

ERC-2612 (tạo ngày 13/4/2020, dựa trên EIP-20 và EIP-712) thêm hàm permit cho token: người dùng đổi hạn mức cho phép (allowance) bằng một thông điệp đã ký, không phải tự gửi giao dịch approve.

Ai giữ chữ ký cũng gửi được nó lên chuỗi; văn bản ghi “another party can always front run this transaction” (người khác luôn có thể gửi giao dịch này trước). Trường deadline (hạn dùng) có thể đặt bằng uint(-1) để chữ ký “effectively never expire” (gần như không hết hạn).

Chiêu lừa thường đi theo ba bước:

  1. Trang giả (nhận token miễn phí, mint NFT, “kiểm tra ví”) xin bạn ký một yêu cầu chữ ký (Signature request) chứ không phải một giao dịch, nên ví không báo phí.
  2. Nội dung ký là Permit với spender là địa chỉ của kẻ gian, value rất lớn, deadline rất xa.
  3. Kẻ gian tự gửi chữ ký lên chuỗi, trả phí, rồi gọi transferFrom để chuyển token đi.

Trước khi ký một thông điệp có các trường spender, value, deadline, nonce, hãy đọc spender là ai và verifyingContract là token nào. Số liệu thiệt hại, cách đọc màn hình ký và cách thu hồi quyền đã cấp ở bài approve token và cách revoke.

EIP-7702 và ERC-4337 khác nhau thế nào?

Cả hai cùng nhắm tới “trừu tượng hóa tài khoản” (account abstraction). ERC-4337 làm ví hợp đồng thông minh mà không đổi giao thức. EIP-7702, bật từ nâng cấp Pectra ngày 07/5/2025, cho ví thường (EOA) gắn mã hợp đồng vào chính địa chỉ của mình.

Văn bản EIP-7702 viết về giao diện ký ủy quyền: “There is no safe way to provide this interface” (không có cách an toàn nào để cung cấp giao diện này), vì mã được ủy quyền có toàn quyền với tài khoản. Nên ứng dụng không được xin người dùng ký ủy quyền và ví không được mở giao diện đó cho ứng dụng. Một ủy quyền đặt mã chuỗi bằng 0 có hiệu lực trên mọi chuỗi.

Cách các loại ví thông minh hoạt động và rủi ro đi kèm ở bài ví MPC là gì.

Ethereum nâng cấp thì người dùng cần làm gì?

Thường không cần làm gì với ETH đang giữ. Ai bảo bạn phải “nâng cấp” hay “đổi” ETH sau một đợt nâng cấp là đang lừa.

Trang Fusaka của ethereum.org (nâng cấp ngày 03/12/2025) ghi “there is no need to convert or upgrade your ETH” (không cần đổi hay nâng cấp ETH) và “anyone instructing you to ‘upgrade’ your ETH is trying to scam you” (ai hướng dẫn bạn nâng cấp ETH là đang tìm cách lừa bạn). Người phải cập nhật là người vận hành nút và validator: họ cần chạy phiên bản phần mềm có hỗ trợ đợt nâng cấp.

Thêm ba lưu ý:

  • Nâng cấp không phải lời hứa về giá hay về phí. Chính trang Fusaka viết đợt này “does not lower gas fees on L1, at least not directly” (không trực tiếp làm giảm phí gas trên lớp 1). Hãy đọc văn bản EIP thay vì tin tiêu đề kiểu “EIP này sẽ đẩy giá”.
  • Trạng thái Draft không phải lịch bật. Một EIP Draft có thể bị sửa, bị bỏ dở (Stagnant) hoặc bị rút (Withdrawn); chỉ khi được xếp vào một đợt nâng cấp nó mới có ngày bật. Theo ethereum.org (trang cập nhật 26/6/2026), đợt tiếp theo mang tên Glamsterdam (Amsterdam ở tầng thực thi, Gloas ở tầng đồng thuận) và chưa có ngày.
  • Chuẩn mới cũng mở thêm kiểu lừa xin chữ ký. EIP-712, ERC-2612, EIP-7702 làm ví mạnh hơn, nhưng mỗi chữ ký có thể trao quyền với tài sản. Chỉ ký ở trang bạn tự gõ địa chỉ và đọc từng trường trước khi bấm.

Về pháp lý ở Việt Nam, EIP là quy ước kỹ thuật của cộng đồng Ethereum, không phải văn bản pháp luật. Nghị quyết 05/2025/NQ-CP không nhắc tên Ethereum hay EIP nào.

Theo Nghị quyết 05 Điều 4 khoản 4, chỉ tổ chức được Bộ Tài chính cấp phép mới được cung cấp dịch vụ và quảng cáo, tiếp thị liên quan đến tài sản mã hóa. Tính đến 31/10/2026, chưa sàn nào được cấp phép. Hồ sơ từng sàn và tình trạng xét duyệt ở trang sàn tài sản mã hóa được cấp phép.

Chia sẻ bài viết

Liên quan

Bắt đầu từ cơ bản: Tài sản mã hóa cho người mới: 10 điều cần biết trước khi mua

Câu hỏi thường gặp

EIP và BIP khác nhau thế nào?

BIP (Bitcoin Improvement Proposal) là đề xuất cải tiến Bitcoin, có quy trình tương tự nhưng cho mạng Bitcoin. EIP-1 cho phép một EIP dẫn chiếu BIP khi cần, nhưng hai hệ độc lập: một BIP không thay đổi Ethereum và một EIP không thay đổi Bitcoin.

Ai cũng viết được EIP không?

Được. Theo kho EIPs trên GitHub, ý tưởng phải được thảo luận kỹ trên diễn đàn Ethereum Magicians hoặc Ethereum Research trước, sau đó tác giả viết theo mẫu của EIP-1 và gửi yêu cầu gộp (pull request). Được gộp ở trạng thái Draft chỉ có nghĩa là đúng hình thức, chưa phải được chấp nhận.

EIP-1559 có làm phí gas rẻ đi không?

Không trực tiếp. Mục tiêu ghi trong văn bản là phí dễ đoán hơn, để ví tự đặt phí đáng tin và người dùng ít trả thừa như thời đấu giá. Mức phí vẫn theo nhu cầu: nếu các khối liên tục đầy, phí cơ bản tăng tới 12,5% sau mỗi khối.

Nâng cấp London, Pectra, Fusaka khác EIP thế nào?

Một đợt nâng cấp mạng (hard fork) là một gói nhiều EIP được bật cùng lúc ở một khối định trước. Theo ethereum.org, London (05/8/2021) gồm EIP-1559 và các thay đổi về hoàn gas; Pectra (07/5/2025) gồm EIP-7702 cùng 10 EIP khác; Fusaka (03/12/2025) có PeerDAS (EIP-7594) để tăng chỗ chứa dữ liệu blob cho layer 2.

Đọc bản chính thức của một EIP ở đâu?

Ở eips.ethereum.org. Kho EIPs ghi rằng tài liệu nào không đăng ở địa chỉ này chỉ nên coi là bản làm việc (working paper). Các ERC mới nằm ở kho riêng ethereum/ERCs từ năm 2023, các ERC cũ vẫn mở được trên eips.ethereum.org.

Bước tiếp theo

Nguồn tham khảo 16

Kiểm chứng ngày 29/10/2026

  1. 01EIP-1: EIP Purpose and Guidelines (trạng thái Living)eips.ethereum.org
  2. 02Ethereum Improvement Proposals: trang chủ, số EIP theo nhóm (đọc 29/10/2026)eips.ethereum.org
  3. 03GitHub ethereum/EIPs, PR 7206: Move ERCs to separate repository (gộp 25/10/2023)github.com
  4. 04EIP-1559: Fee market change for ETH 1.0 chaineips.ethereum.org
  5. 05EIP-712: Typed structured data hashing and signingeips.ethereum.org
  6. 06ERC-2612: Permit Extension for EIP-20 Signed Approvalseips.ethereum.org

Mục lục

  1. 01EIP là gì?
  2. 02EIP khác ERC thế nào?
  3. 03Một EIP đi từ ý tưởng tới mạng chính thế nào?
  4. 04Những EIP người dùng hay gặp
  5. 05EIP-1559 là gì?
  6. 06EIP-712 là gì?
  7. 07EIP-7702 và ERC-4337 khác nhau thế nào?
  8. 08Ethereum nâng cấp thì người dùng cần làm gì?
  9. Câu hỏi thường gặp
  10. Nguồn tham khảo